; TẦN LÁ DÀY – Thảo dược HerbEco
Giỏ hàng

TẦN LÁ DÀY

TẦN LÁ DÀY (HÚNG CHANH)

Tên khoa học: Coleus amboinicus Lour.

Tên khác: Húng chanh, rau thơm lông, dương tử tô.

Tên nước ngoài: Country borage, indian borage (Anh); coliole aromatique (Pháp).

Họ: Bạc hà (Lamiaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống lâu năm, cao 20 – 50cm. Thân mọc đứng hay ngả, phần sát gốc hóa gỗ. Lá mọc đối, dày, mọng nước, hình trứng rộng, gốc hình nêm, đầu hơi nhọn hoặc tù, dài 3 – 6cm, rộng 2 – 5cm, mép khía răng tròn.

Cụm hoa mọc ở ngọn thân và đầu cành thành bông dày, các vòng mang hoa rất sít nhau; hoa nhỏ màu tím hồng; đài hình chuông ngắn, có lông, chia 5 răng, răng trên hình trứng rộng, răng dưới và răng bên gần bằng nhau; tràng cong, có ống hình phễu, mặt ngoài có lông, mặt trong nhẵn, môi dưới dài bằng ống tràng, môi trên ngắn, 3 thùy, thùy trên rộng, hai thùy bên hĩnh mũi mác; nhị 4, thò ra ngoài tràng.

Quả bế tư, nhỏ, hình cầu, màu nâu.

Toàn cây có lông rất nhỏ và mùi thơm như chanh.

Mùa hoa quả: tháng 3 – 5.

Phân bố, sinh thái

Chi Coleus Lour. có khoảng 200 loài, phân bố rộng rãi ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới châu Á, châu Phi và một số đảo ở Thái Bình Dương. Chi này có 3 loài ở Việt Nam.

Húng chanh có nguồn gốc ở vùng Đông Ấn Độ và đảo Moluques, sau được trồng phổ biến ở Malaysia, Philippin, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam và Trung Quốc.

Ở Việt Nam, húng chanh là cây trồng từ lâu đời, rải rác trong nhân dân, chưa trở thành một cây trồng sản xuất. Cây ưa sáng và ưa ẩm, đôi khi chịu hạn. Cây trồng trên đất cát vùng ven biển miền Trung, vào mùa khô, nhiều ngày không tưới nước, cây vẫn sinh trưởng, phát triển được. Cây trồng ở các tỉnh phía bắc có hiện tượng rụng lá vào mùa đông; ít khi thấy có hoa. Húng chanh có khả năng tái sinh vô tính khỏe.

Công dụng

Tính vị, công năng: Lá húng chanh có vị the cay, hơi chua, mùi thơm, tính ấm, vào hai kinh can, phế, có tác dụng lợi phế, trừ đờm, giải cảm, phát hãn, thoái nhiệt, tiêu độc.

Lá húng chanh được dùng chữa cảm cún, ho, hen, viêm họng, ho ra máu, sốt cao, sốt không ra mồ hôi được, nôn ra máu, chảy máu cam. Thường dùng lá tươi với liều 10 – 16g mỗi ngày, dạng thuốc sắc, xông hoặc giã nát vắt lấy nước uống. Trong thuốc xông, lá húng chanh thường được dùng phối hợp với nhiều loại lá khác có tinh dầu như sả, hương nhu, hoắc hương v.v…Cũng có thể dùng lá phơi âm can với liều 4 – 8g mỗi ngày.

Dùng ngoài, lá tươi húng chanh giã nát, đắp lên vết thương chữa rết và bọ cạp cắn.

Ở Ấn Độ, lá húng chanh được dùng chữa các bệnh về tiết niệu. Nước ép lá trộn với đường là một thuốc gây trung tiện mạnh. Húng chanh được dùng trong chứng khó tiêu, tuy có ý kiến cho rằng thuốc có độc. Nước sắc lá được dùng chữa ho và hen mạn tính.

Bài thuốc

  • Chữa ho, viêm họng, khản tiếng:

a. Lá húng chanh tươi nhai ngậm với muối, nuốt nước dần dần. Hoặc lấy 20g lá tươi giã nhỏ, thêm nước gạn uống làm 2 lần trong ngày.

Đối với trẻ nhỏ, lấy lá tươi rửa sạch, giã nhỏ với ít đường, đem hấp cơm và cho uống làm 2 – 3 lần trong ngày.

b. Húng chanh 20g, xạ can 20g. Nấu thành cao lỏng có đường, ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần một thìa cà phê. Hoặc làm thành phiến, mỗi ngày ngậm một phiến, tương đương với 3g dược liệu.

  • Chữa ho gà:

Húng chanh 10g, mạch môn 12g, vỏ rễ dâu 12g, bách bộ 10g, rau sam 10g. Sắc uống ngày một thang, uống liên tục 15 – 30 thang. Hoặc chế thành sirô, ngày uống 3 lần, mỗi lần một thìa canh. Trẻ em giảm ½ liều.

  • Chữa cảm mạo do lạnh:

Húng chanh 10g, bách bộ 12g, tía tô 12g, xạ can 10g, gừng 8g, trần bì 8g, bạch chỉ 6g. Sắc uống ngày một thang trong 5 ngày liền.

  • Chữa cảm cúm, cảm sốt, nóng rét, nhức đầu ngạt mũi, ho đờm:

a. Lá húng chanh tươi 15 – 20g, giã lấy nước cốt uống.

b. Lá húng chanh tươi 15 – 20g, gừng 12g, hành 12g. Cùng lúc sắc uống và xông cho ra mồ hôi.

TRỒNG VÀ SẢN XUẤT TẦN LÁ DÀY TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT DƯỢC LIỆU MIỀN TRUNG