; BÌNH VÔI – Thảo dược HerbEco
Giỏ hàng

BÌNH VÔI

BÌNH VÔI

Tên khoa học: Stephania pierrei Diels.

Tên khác: Củ một dây, dây mối trơn, cáy pầm (Tày), co cáy khẩu (Thái), tở lùng dòi (Dao), p’lồi (K’ho).

Tên nước ngoài: Moon-seed (Anh)

Họ:  Tiết dê (Menispermaceae)

Mô tả

Dây leo, thường xanh, sống lâu năm, dài 2-6m. Thân nhẵn, hơi xoăn vặn. Rễ củ to, có thể nặng đến 50kg, vỏ ngoài xù xì, màu nâu đen. Lá mọc so le, có cuống dài đính vào trong phiến khoảng 1/3, phiến lá mỏng, gần hình tròn có cạnh hoặc tam giác tròn, gân lá xuất phát từ chỗ đính của cuống lá, hình chân vịt, nổi rõ ở mặt dưới lá, hai mặt nhẵn, mép hơi lượn sóng.

Cụm hoa mọc thành xim tán ở kẽ lá hoặc những cành già đã rụng lá; hoa đực và hoa cái khác gốc; hoa đực có 5-6 lá đài; 3-4 cánh hoa màu vàng cam, nhị 3-6, thường là 4; hoa cái có 1 lá đài, 2 cánh hoa, bầu hình trứng.

Quả hạch, hình cầu, hơi dẹt màu đỏ khi chín; hạt cứng, hình móng ngựa có những có những hàng vân dạng gai, hai mặt bên lõm, ở giữa không có lỗ thủng.

Mùa hoa: tháng 4-6 ; màu quả: tháng 8-10.

Phân bố, sinh thái

Stephania Lour. là chi có khoảng 45 loài dây leo, thường xanh hoặc rụng lá, trong đó nhiều loài có rễ phình to thành củ. Ở Malaysia có 12 hoặc 13 loài, Trung Quốc hơn 10 loài, Ấn Độ 9 loài. Ở Việt Nam, có ít nhất 10-12 loài, trong đó 8-9 loài có rễ củ phình to thường được gọi chung là “củ bình vôi”. Loài Stephania pierrei Diels phân bố dọc các tỉnh ven biển miền Trung.

Bình vôi là cây ưa sáng, khi còn nhỏ cây có thể chịu bóng, thường mọc trong các quần thể cây bụi và dây leo nhỏ ở vùng đất cát ven biển. Hàng năm, bình vôi có hiện tượng rụng lá vào cuối thu, đầu đông. Đến cuối mùa xuân (khoảng đầu tháng 3), cùng với việc ra lá non trên các chồi thấy xuất hiện hoa. Là loài cây có hoa khác gốc, việc thụ phấn được thực hiện chủ yếu bời côn trùng.

Trữ lượng bình vôi ở Việt Nam trước đây rất phong phú. Gần 10 năm trở lại đây, do bị khai thác ồ ạt bán qua biên giới và sử dụng trong nước nên nguồn dự trữ này bị cạn kiệt nhanh chóng. Vấn đề bảo vệ và khai thác hợp lý các loài bình vôi ở Việt Nam đang là vấn đề cấp thiết hiện nay.

Công dụng

Bình vôi có tác dụng thanh nhiệt, giải độc, tiêu ứ, chỉ thống, khư phong.

Theo kinh nghiệm của nhân dân ta, bình vôi chữa mất ngủ, ho hen, kiết lỵ, sốt, đau bụng, được dùng dưới dạng củ thái nhỏ phơi khô sắc nước uống hoặc dạng bột, ngâm rượu hay chè thuốc.

Liều dùng: 3-6g/ngày.

Thuốc ngâm rượu gồm bột bình vôi (1 phần) với rượu 400 (5 phần); mỗi ngày uống 5-15ml, có thể thêm đường cho dễ uống.

Trong y học hiện đại, L-tetrahydropalmatin được dùng làm thuốc an thần, gây ngủ, giảm đau, điều trị một số trường hợp rối loạn tâm thần chức năng, trạng thái căng thẳng thần kinh, mất ngủ dai dẳng nguyên nhân tâm thần.

Liều dùng: 0,05-0,10g/ngày, dưới dạng viên L-tetrahydropalmatin clohydrat, mỗi viên 0,05g. Trung Quốc dùng dạng thuốc tiêm sulfat 0,3% mỗi ống 2ml để giảm đau, an thần, gây ngủ, điều trị loét dạ dày tá tràng, đau dây thần kinh, đau bụng khi có kinh, mất ngủ, căng thẳng thần kinh, hen co thắt khí phế quản.

Liều dùng: mỗi lần một ống 2ml, tiêm bắp thịt ngày 1-2 lần;

Ngoài ra, củ Bình vôi còn được dùng chữa đau dạ dày, đau răng, viêm ruột, viêm họng, mụn nhọt. Dùng ngoài, củ tươi giã nát đắp tại chỗ chữa vết thương.

Bài thuốc

Chữa phong thấp tê đau, phù thận, ho hoặc nôn ra máu: Bình vôi 6-9g, sắc nước uống.

Chữa đau bụng đầy hơi, sốt rét: Bình vôi 1,5g sắc nước uống hoặc dạng bột.

BÌNH VÔI TẠI TRUNG TÂM NGHIÊN CỨU VÀ SẢN XUẤT DƯỢC LIỆU MIỀN TRUNG