Giỏ hàng

DIỆP HẠ CHÂU ĐẮNG

DIỆP HẠ CHÂU ĐẮNG

Tên khoa học: Phyllanthus amarus Schum. et Thonn.

Tên khác: Chó đẻ thân xanh.

Họ: Thầu dầu (Euphorbiaceae).

Mô tả

Cây thảo, cao 10-40 cm, ít phân cành, màu lục. Lá mọc so le, xếp hai dãy đều trên cành trông như một lá kép lông chim, gốc tròn, đầu tù hơi nhọn, hai mặt nhẵn, mặt trên màu lục sẫm, mặt dưới mông mốc.

Hoa đơn tính, mọc ở kẽ lá, không có cánh hoa, màu lục nhạt; hoa đực có cuống ngắn, xếp ở dưới hoa cái; hoa cái có cuống dài.

Quả nang, hình cầu, nhẵn, hơi dẹt, chia thành 3 mảnh vỏ, mỗi mảnh có 2 van chứa 2 hạt; hạt hình tam giác, đường kính 1mm, có cạnh dọc và vằn ngang.

Mùa hoa: tháng 4-6; mùa quả: 7-9.

Phân bố, sinh thái

Diệp hạ châu đắng có nguồn gốc xa xưa ở vùng nhiệt đới Nam Mỹ và hiện nay thấy phân bố rải rác khắp các vùng nhiệt đới cổ. Ở châu Á, vùng phân bố của diệp hạ châu đắng gồm các nước Ấn Độ, Malaysia, Philippin, Indonesia, Thái Lan, Campuchia, Lào, Việt Nam, Nam Trung Quốc và cả ở vùng đảo Salawesi. Ở Việt Nam, diệp hạ châu đắng cũng thấy rải rác khắp nơi, từ các tỉnh vùng đồng bằng, ven biển, các đảo lớn đến các tỉnh ở trung du và miền núi, có độ cao dưới 800m; Ở các nước Đông Nam Á, độ cao phân bố này có thể đến 1000m (F. L. var Holthoon, 1999).

Diệp hạ châu đắng là cây ưa sáng và có thể howichiuj bóng khi còn nhỏ hoặc mọc xen lẫn với những loại cây cỏ khác. Cây thường mọc ở đất ẩm trong vườn, ruộng trồng hoa màu, ven đường đi hay trên nương rẫy. Cây con mọc từ hạt thường xuất hiện vào khoảng cuối mùa xuân; sinh trưởng nhanh trong vòng 2 tháng của mùa hè, sau đó ra hoa quả và tàn lụi. Toàn bộ vòng đời của cây chỉ kéo dài 3-4 tháng. Hạt của diệp hạ châu đắng tồn tại trên mặt đất 7-8 tháng vẫn còn sức nảy mầm

Công dụng

Tính vị, công năng: Diệp hạ châu đắng có vị hơi đắng, tính mát, có tác dụng tiêu độc, sát trùng, tán ứ, thông huyết, điều kinh, lợi tiểu, thống sữa.

Diệp hạ châu đắng được dùng làm thuốc trị viêm gan, vàng da, sốt, đau mắt, rắn cắn. Ngày dùng 20 – 40 g cây tươi, giã lấy nước uống, hoặc sao khô sắc uống hoặc 8 – 16 g cây khô cũng sắc uống. Dùng ngoài, cả cây giã đắp hoặc giã lấy nước cốt bôi trị mụn nhọt, lỡ ngứa.

Diệp hạ châu đắng được dùng trong y học cổ truyền Thái Lan trị vàng da. Trong y học cổ truyền Ấn Độ, diệp hạ châu đắng là thuốc làm săn, khai thông, sát khuẩn, lợi tiểu, và được dùng trị vàng da, khó tiêu, lỵ, phù, các bệnh của hệ niệu – sinh dục, bệnh lậu và đái tháo đường. Nước sắc chồi non trị lỵ, rễ tươi trị vàng da, lá là thuốc lợi tiêu hóa, dịch ép lá dùng đắp trị lở loét. Người ta còn dùng lá và rễ khô tán nhỏ làm thành bột nhão đắp các vết sưng tấy và loét. Ở Peru, nhân dân uống nước sắc phần trên mặt đất làm thuốc lợi tiểu, trị sỏi mật và sỏi thận. Ở một số nước Nam Mỹ, diệp hạ châu đắng được dùng trị sốt rét, sỏi thận, sỏi bàng quang, các rối loạn về tiết niệu nói chung và còn có tác dụng gây sẩy thai.

Ở Haiti, nhân dân uống nước sắc lá diệp hạ châu đắng và tắm với nước ngâm lá để trị sốt. Từ đảo Hải Nam đến Indonesia, nhân dân uống nước sắc hoặc nước hãm diệp hạ châu đắng làm thuốc lợi tiểu trị bệnh thận và gan, bệnh hoa liễu, đau bụng, làm thuốc long đờm trị ho trẻ em, hạ sốt, điều kinh và trị tiêu chảy. Nước sắc toàn cây là thuốc bổ dạ dày. Lá giã nát đắp trị đụng giập và bệnh ngoài da. Ở Papua Niu Ghinê, nước hãm toàn cây để nguội trị đau đầu hoặc nhức nửa đầu. Các thầy thuốc cổ truyền ở Tanzania dùng cao nước phần trên mặt đất của diệp hạ châu đắng trị đái tháo đường không phụ thuộc insulin. Ở Nigiêria, cao nước cây khô trị tiêu chảy, lá nhai nuốt nước trị ho kéo dài, và sắc uống làm đỡ đau dạ dày.

Ở Tây Ấn Độ, diệp hạ châu đắng được dùng trị giun trẻ em, và ở Rarotonga, trị đau tai. Ở Bờ Biển Ngà, nhân dân uống nước sắc lá để làm đẻ dễ trong trường hợp đẻ khó, trị vàng da, nôn, đau họng, đau gian sườn, đau mình mẩy kèm theo sốt và phù, đánh trống ngực, bệnh lậu, bệnh về da.