Giỏ hàng

ÍCH MẪU

ÍCH MẪU

Tên khoa học: Leonurus artemisia (Lour.) S. Y. Hu

Tên khác: Sung úy, chói đèn, làm ngài, xác diến (Tày), chạ linh lo (Thái).

Tên nước ngoài: Wormwoodlike motherwort, lion’s tail (Anh); agripaume (Pháp).

Họ: Bạc hà (Lamiaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống hàng năm hoặc hai năm, cao 0,5-1m, có khi hơn. Thân đứng, hình vuông, có rãnh dọc, có lông hoặc nhẵn, phân cành. Lá mọc đối, có cuống dài, lá gốc gần như tròn, có răng cưa nông, hai mặt có lông mềm như nhung, lá giữa dài, xẻ sâu thành thuỳ hẹp, không đều, các thuỳ có răng cưa nhọn, lá ngọn ngắn, ít xẻ hoặc nguyên, phiến của lá giữa và lá ngọn men theo cuống đến tận gốc, có lông ở mặt dưới và trên những đường gân nổi rất rõ.

Cụm hoa thành những vòng dày đặc ở kẽ lá, đường kính 2 – 2,5 cm; lá bắc hình dùi, ngắn hơn đài; đài hoa hình chuông, có 5 răng nhọn, có lông; tràng hoa màu trắng hồng hoặc tím hồng, mặt ngoài có lông, môi trên hình trứng, hơi cong, môi dưới dài bằng môi trên nhưng hẹp hơn, chia 3 thùy, thuỳ dưới rộng; nhị 4, đính vào giữa ống tràng.

Quả nhỏ, ba cạnh, nhẵn, cụt một đầu, khì chín màu nâu sẫm.

Mùa hoa : tháng 3 - 5; mùa quả: tháng 6 - 7.

Cây có công dụng tương tự:

Leonurus sibiricus L. : Cây nhỏ, cao 0,2 - 0,8 m, phiến lá giữa xẻ rất sâu, sát tận gân lá, lá ở ngọn chia 3 thuỳ, thuỳ giữa lại chia 3 thuỳ nữa. Cụm hoa có đường kính 3 - 3,5 cm, hoa có môi dưới ngắn bằng ¾ môi trên.

Phân bố, sinh thái

Chi Leonurus L. có 8 loài, phân bố ở vùng ôn đới ấm, cận nhiệt đới và nhiệt đới châu Âu, châu Á và châu Mỹ. Việt Nam có 3 loài: ích mẫu, ích mẫu Sibêri và Xư nhĩ.

Ích mẫu vốn là cây mọc tự nhiên ở các bãi sông, ruộng ngô trong các thung lũng. Do nguồn cung cấp tự nhiên hạn chế, cây đã được trồng nhiều ở các tỉnh đồng bằng và trung du phía bắc.

Trong tự nhiên, ích mẫu mọc từ hạt vào tháng 3-4. Cây sinh trưởng nhanh, ra hoa quả trong mùa hè, sau đó tàn lụi. Cây ưa sáng và ưa ẩm; phân nhánh nhiều theo kiểu lưỡng phân. Trong thời kì sinh trưởng mạnh cần đủ ẩm, nhưng khong chịu được ngập úng.

Công dụng

Tịnh vị, công năng: Ích mẫu có vị đắng, cay, tính hơi hàn, vào 2 kinh tâm và can, có tác dụng hoạt huyết, điều kinh, khư ứ, tiêu thủy.

Quả ích mẫu (sung uý tử) có vị cay, ngọt, tính hơi hàn, vào 2 kinh can tỳ, có tác dụng hoạt huyết, điều kinh, thanh can, minh mục.

Ích mẫu được dùng làm thuốc chữa bệnh từ lâu đời, nhất là đối với phụ nữ sau khi đẻ, chữa rong huyết, tử cung co hồi không tốt; rối loạn kinh nguyệt, kinh bế, đau kinh, khí hư bạch đới quá nhiều.

Về điều trị rối loạn kinh nguyệt, một số nhà lâm sàng có những nhận định về tác dụng của ích mẫu như sau: Đã dùng điều trị cho 234 bệnh nhân thấy rằng ích mẫu có tác dụng điều trị tốt đối với những trường hợp kinh ít, kinh thưa, đau kinh cơ năng. Đối với trường hợp huyết kinh thẫm màu, ích mẫu làm cho huyết tươi, trường hợp kinh thưa dùng thuốc vòng kinh mau dần và đều hơn, còn trường hợp đau kinh cơ năng thuốc làm giảm hoặc làm khỏi hẳn. Đối với các trường hợp kinh nhiều, rong kinh do cường oestrogen, ích mẫu không có tác dụng. Song cũng có nhận định cho rằng ích mẫu cũng có tác dụng đối với những trường hợp huyết kinh quá nhiều hoặc rong kinh. Ngoài ra, ích mẫu còn được dùng chữa cao huyết áp, viêm thận và làm thuốc bổ huyết. Đối với viêm thận cấp và mạn, sau khi dùng ích mẫu thấy phù giảm rõ rệt, tiểu tiện tăng nhiều, ăn ngon, dùng lâu không có tác dụng phụ. Quả ích mẫu dùng làm thuốc thông tiểu tiện, chữa cao huyết áp, đau đầu, mắt mờ sưng đỏ.

Ngày dùng 10-12g cả cây dưới dạng thuốc sắc, cao hoặc viên; 3-9g quả, sắc nước uống

Bài thuốc

A- Dùng ở Việt Nam

  • Chữa kinh nguyệt không đều:

- Cao hương ngải gồm ích mẫu 800g, ngải cứu 200g, hương phụ 250g. Nấu với nước vài lần. Cô đặc còn 1000ml. Thêm đường. Uống mỗi lần 2-3 thìa canh, ngày 2 lần trước bữa ăn.

- Ích mẫu, bạc thau, cỏ roi ngựa với lượng bằng nhau, sắc nước uống làm 2-3 lần trong ngày.

  • Thuốc bổ huyết điều kinh:

Ích mẫu 80g, nghệ đen (nga truật) 60g, ngải cứu 40g, hương phụ 40g, hương nhu 30g. Tất cả sao vàng tán bột mịn, luyện với mật, làm thành viên to bằng hạt đậu xanh. Ngày uống 3 lần, mỗi lần 20 viên.

  • Chữa mắt đỏ, sưng đau:

Sung úy tử, cúc hoa, quyết minh tử, thanh tương tử, sinh địa, mỗi vị 10g. Sắc nước uống trong ngày.

B- Dùng ở Trung Quốc

  • Chữa đau kinh:

Ích mẫu 15g, nguyên hồ tố 6g. Sắc nước uống trong ngày.

  • Giúp tử cung co hồi sau khi đẻ:

Ích mẫu 36g, đương quy 9g. Sắc uống làm 3 lần trong ngày.

  • Chữa viêm cầu thận:

Ích mẫu 90-120g (khô), hoặc 180-240g (tươi). Sắc với 700 ml nước, còn 300ml, chia làm 2-3 lần uống trong ngày. Trẻ con dùng liều thấp hơn.

Trong lúc điều trị không được ăn mặn, hạn chế thức ăn giàu protid. Thuốc có tác dụng lợi tiểu và tiêu phù rất rõ, thích hợp cho điều trị viêm thận cấp.

  • Chữa phụ nữ khí huyết lưỡng hư, tỳ vị suy nhược, chán ăn, kinh nguyệt không đều, xích bạch đới:

Ích mẫu 120g; nhân sâm, bạch truật (sao) phục linh thược dược (sao giấm), xuyên khung mỗi vị 30g; thục địa, đương quy mỗi vị 60g; cam thảo (chích) 15g.

Nghiền thành bột mịn, luyện mật, làm viên to bằng ngón ttay cái. Mỗi lần uống 1 viên với rượu. Ngày uống 2 lần (Bát trân ích mẫu hoàn).