Giỏ hàng

LƯỢC VÀNG

LƯỢC VÀNG

Tên khoa học: Callisia fragrans (Lindl.) Woodson

Tên khác: Ria vàng, cây lan vòi, cây trai thơm

Họ: Thài lài (Commelinaceae).

Mô tả

Cây thảo sống lâu năm, có thân đứng cao 15 – 20 (-100)cm, lại có thân bò lan trên mặt đất hoặc hướng lên nếu có giá tựa. Lá to, thuôn hình ngọn giáo, dài tới 20 – 30cm, rộng 5 – 6 (-7,5)cm, gốc thành bẹ ôm lấy thân, chóp nhọn dần thành mũi, mép lá lượn sóng, màu lục bóng như phủ sáp, cứng và dễ gãy.

Cụm hoa chùm gồm nhiều cụm hoa xim co; mỗi cụm hoa dạng xim co có 4 – 6 hoa bao bởi một lá bắc chung. Mỗi hoa lại nằm trong một lá bắc chính và hai lá bắc con hai bên. Hoa có 3 lá đài khô xác, giống với cánh hoa, hình thuyền, không màu, dài 2,5 – 5mm, rộng 1 – 1,5mm, có nhiều lông nhỏ. Bộ nhị gồm 6 nhị có chỉ nhị ngắn, dài khoảng 3mm; xếp làm 2 vòng; bao phấn có 2 ô rộng rõ. Bộ nhụy có 2 vòi nhụy dài khoảng 2,5mm; bầu trên, 1 ô chứa 2 noãn.

Phân bố, sinh thái

Cây lược vàng có gốc từ Meehicô, được gây trồng ở các nước nhiệt đới châu Mỹ, châu Âu, Ôxtrâylia. Ở nước ta, cây được trồng ở Thanh Hóa (năm 2006) rồi lan ra nhiều thành phố và thị xã cũng như vùng nông thôn ở nhiều nơi.

Cây nhập trồng. Sinh trưởng nhanh. Nhân giống dễ bằng những đoạn thân bò lan dài 7cm làm cành giâm; nếu có những đoạn thân có rễ thì cây sinh trưởng nhanh hơn. Có thể trồng trong chậu, trong giỏ treo hoặc trên đất vườn.

Công dụng

Tính vị, tác dụng: Vị chua nhạt, tính mát, không độc, có tác dụng làm giảm đau nhức, trừ ngứa, làm liền sẹo vết thương, vết loét và u tân sinh.

Dựa theo những kinh nghiệm dân gian ở Liên Bang Nga, nhân dân ta đã ứng dụng điều trị viêm họng, viêm phế quản, đau khớp xương, đau dạ dày, tá tràng, bướu cổ, cảm hàn, tê tay chân và cũng đã sử dụng trong điều trị ung thư, vôi hóa cột sống, u xơ tuyến tiền liệt. Cách dùng đơn giản là lấy lá ăn sống hàng ngày và dùng các thân bò cắt ngắn ngâm rượu uống và làm thuốc xoa bóp.