Giỏ hàng

MÃ ĐỀ

MÃ ĐỀ

Tên khoa học: Plantago major L.

Tên khác: Xa tiền, bông mã đề, su ma (Tày), nhả én dứt (Thái), nằng chấy mía (Dao).

Tên nước ngoài: Broad – leaved plantain, ripple grass, cart – track plant, plantain ribwort, great plantain, large plantain (Anh); plantain majeur, plantain commun, grand plantain, plantain des oiseaux (Pháp).

Họ: Mã đề (Plantaginaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống hàng năm, có thân ngắn. Lá mọc thành hình hoa thị, hình trứng, dài 5 – 12 cm, rộng 3,5 – 8 cm, đầu tù hơi có mũi nhọn, gân lá hình cung, mép uốn lượn, nguyên hoặc có răng cưa nhỏ, không đều; cuống lá dài 5 – 10cm, loe ở gốc.

Cụm hoa mọc ở kẽ lá thành bông có cán dài hơn lá; hoa nhỏ có lá bắc hình trứng, ngắn hơn đài; đài 4 thùy hơi có gờ, dính nhau ở gốc; tràng hoa mỏng, khô xác, có 4 thùy hình tam giác nhọn, xếp xen kẽ với các lá đài; nhị 4, chỉ nhị mảnh; bầu hình cầu, có 2 ô.

Quả nang, hình chóp thuôn, dài 3,5 - 4 mm, mở bằng một nắp nứt ngang trên các lá đài, hạt hơi đẹt, màu nâu hoặc đen bóng.

Mùa hoa quả: tháng 5 – 8.

Phân bố, sinh thái

Chi Plantago L. có khoảng 250 loài, phân bố rộng rãi khắp thế giới. Việt Nam có 3 loài, trong đó chỉ có Plantago major L. là loài bản địa.

Trên thế giới, mã đề phân bố ở tất cả các vùng nhiệt đới và á nhiệt đới của các châu lục. Việt Nam, Lào, Campuchia Thái Lan, Malaysia, Philippin, Indonesia, Ấn Độ và một số tính phía nam Trung Quốc... là những nơi có nhiều mã đề trong các quần thể mọc hoang cũng như trồng trọt. Ở Việt Nam, mã đề mọc hoang dại ở vùng núi. Độ cao phân bố có thể hơn 1600 m (ờ Đồng Văn và Mèo Vạc - Hà Giang). Cây còn gặp ở một số đảo lớn như Hòn Mê (Thanh Hóa); Cát Bà (Hải Phòng); Cô Tô (Quảng Nnih)...

Mã đề là cây ưa sáng, ưa ẩm và có khả năng chịu hạn nhẹ, thích nghi cao với vùng có khí hậu nhiệt đới nóng và ẩm. Ỡ vùng nút cao lạnh (nhiệt độ trung bình 15 - 160C), cây sinh trưởng kém, lá nhỏ và tổng khối lượng chất xanh cũng ít. Cây ra hoa quả nhiều, trên một cá thể có thể thu được 10.000 - 14.000 hạt (Lilis Pangemanan, 1999, Plantago L.; in: L.S. de Padua et al., PROSEA, 12(1) - Med. and poisonous Plants; 400 pp); Trong tự nhiên, khi cây tàn lụi, hạt giống rơi xuống đất và có thể tồn tại qua mùa đông, sau đó mới nảy mầm.

Công dụng

Tính vị, công năng: Lá mã đề có vị nhạt, tính mát. Hạt có vị ngọt nhạt, nhớt, tính mát, vào 4 kinh: can, phế, thận, tiểu tràng, có tác dụng thanh nhiệt, lợi phế, tiêu thũng, thông tiểu tiện.

Mã đề được dùng chữa ho lâu ngày, viêm khí quản, viêm thận và bàng quang, bí tiểu tiện, tiểu tiện ra máu hoặc ra sỏi, phù thũng, đau mắt sưng đỏ, tiêu chảy, lỵ, chảy máu cam, ra nhiều mồ hôi. Mỗi ngày uống 10 – 20g toàn cây hay 6 – 12g hạt dưới dạng thuốc sắc. Khi dùng làm thuốc ho cho trẻ em, mã đề có nhược điểm là gây cho trẻ đái dầm.

Dùng ngoài, lá mã đề tươi giã nát đắp làm mụn nhọt chóng vỡ và mau lành. Để chữa bỏng, lấy cao đặc mã đề đắp lên vết thương băng lại, mỗi ngày thay một lần.

Kiêng kỵ: Phụ nữ có thai dùng nên thận trọng. Người già thận kém, đái đêm nhiều không nên dùng.

Trong y học Trung Quốc, nước ép hoặc nước hãm cây mã đề, mỗi lần 5 - 15g được dùng chữa vết thương, viêm phế quản mạn tính, viêm màng phổi, chảy máu, và phối hợp với các cây thuốc khác trong bệnh viêm thận mạn tính.

Hạt mã đề (3 - 8g) sắc uống chữa đái tháo đường, khó tiêu, ho và bệnh vô sinh ở nam và nữ. Dùng ngoài, nước sắc hạt chữa bệnh về mắt.

Ở Ấn Độ, cây mã đề được coi là có tác dụng cầm máu và trị vết thương, bỏng và viêm các mô. Trong liệu pháp vi lượng đồng căn, mã đề được dùng điều trị các bệnh về biểu bì, nhức đầu, đau tai và đau răng. Lá được coi là thuốc làm mát, lợi tiểu, làm săn và hàn vết thương. Nước hãm lá trị tiêu chảy và trĩ. Nước sắc lá để rửa mắt và thuốc mỡ bào chế từ lá trị đau mắt. Thuốc mỡ 10% bột lá vớt dầu hạt đào hoặc vaselin được dùng trị bệnh mủ da, ngứa, chốc, lở loét. Thuốc có tác dụng chống viêm và giúp cho sự hình thành biểu mô mà không gây phản ứng phụ có hại. Rễ mã đề có tác dụng làm săn, chữa sốt và ho. Hạt làm dịu viêm, lợi tiểu, bổ, trì lỵ và tiêu chảy.

Trong y học cổ truyền Nhật Bản, nước sắc của mã đề dùng trị ho, hen, bệnh tiết niệu, tiêu thũng, tiêu viêm. Ở Thái Lan, toàn cây hoặc lá được dùng lợi tiểu và giảm sốt; hạt để nhuận tràng, chống viêm và chữa đầy hơi. Ở Indonesia, cao toàn cây là thuốc lợi tiểu trong sỏi thận, thường phối hợp với 5 phần Clerodendrum, và cũng để điều trị đái tháo đường và bệnh da. Lá trị vết thương và mụn mủ. Ở Philippin, lá được dùng để làm dịu.

Ở Triều Tiên, người ta đùng mã để để điều trị bệnh về gan. Ở Haiti, nhân dân dùng mã đề chữa choáng thần kinh và đau mắt. Ở Guatemala, mã để điều trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu và viêm thận.

Trên thế giới, công dụng của lá mã đề là thuốc lợi tiểu, làm săn và hàn vết thương, trị sâu bọ đốt và bệnh da có tính phổ biến. Những áp dụng khác là chống sốt rét (dịch ép lá tươi hoặc nước sắc toàn cây), đau tai (lá), trị lỵ (nước sắc lá), rửa mắt (nước sắc lá), và dùng làm thuốc súc miệng trị viêm lợi (nước sắc lá).

Bài thuốc

  • Chữa lỵ:

Mã đề, dây mơ lông, cỏ seo gà, mỗi vị 20g. Sắc uống.

  • Chữa người già đái khó, cơ thể nóng:

Hạt mã đề 1 chén (có dung tích 50 ml), bỏ vào túi, sắc lấy nước. Dùng nước này nấu cháo lúa kê mà ăn.

  • Chữa đái ra máu:

Lá mã đề, cỏ ích mẫu, giã vắt lấy nước cốt uống.

  • Chữa sưng dương vật:

Hạ mã đề tán nhỏ, mỗi lần uống 1 thìa, ngày 2 lần.

  • Chữa trẻ em khó đái:

Mã để giã vắt lấy nước, hòa với ít mật ong cho uống.

  • Chữa đau mắt:

Mã đề giã vắt lấy nước cốt, hòa với nước măng tre vòi, lọc trong mà nhỏ mắt.

  • Thuốc lợi tiểu:

Hạt mã đề 10g, cam thảo 2g, nước 600 ml. Sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày.

  • Chữa ho đờm:

Mã đề 10g, cam thảo 2g, cát cánh 2g, nước 400ml. Sắc còn 200 ml, chia 3 lần uống trong ngày. Nếu không có cam thảo, có thể thay bằng đường cho đủ ngọt

  • Chữa phù thũng và tiêu chảy kèm sốt, ho và nôn:

Hạt mã đề, ý dĩ sao, đều bằng nhau. Tán bột, uống mỗi lần 10g, ngày dùng 30g.

  • Chữa tiêu chảy:

Mã để tươi l - 2 nắm, rau má 1 nắm, cỏ nhọ nồi (hoặc lá phèn đen) 1 nắm. Sắc đặc, chia nhiều lần uống.

  • Chữa sốt xuất huyết:

a. Mã đề (hoặc cối xay, rễ cỏ tranh) 20g, rau má 30g, cỏ nhọ nồi 30g. Có thể dùng tươi (giã vắt lấy nước uống), hoặc sắc uống. Bài thuốc này cũng có thể dùng để phòng bệnh.

b. Mã đề 40g, cỏ nhọ nồi 40g, rau má (hoặc cát căn) 40g, rau sam 40g, kim ngân 30g, hoa hoè 10g, thảo quyết minh 10g. Sắc với 300 ml nước, lấy 100 ml, uống nước đầu, sau đó sắc nước thứ hai và thứ ba, uống tiếp trong ngày.

  • Chữa bỏng:

Nước sắc mã đề đậm đặc 100% (100 ml = 100g mã đề khô), trộn đều với lanolin 5og, dầu parafin 50g. Bôi thuốc mỡ lên vết bỏng và băng lại.

  • Chữa giai đoạn đầu của bệnh lao phổi:

Hạt mã đề 10g, đảng sâm 16g, sơn dược 15g, ý dĩ 10g, mạch môn 10g, hạt mơ Trung Quốc (Prunus mume) 10g, cam thảo 3g. Sắc với 600ml nước, còn 200 ml. Chia làm 2 - 3 lần uống trong ngày.

  • Chữa đái tháo đường:

Hạt mã đề 6g, sơn dược 15,5g, sinh địa 15,5g, phục linh 15,5g, phụ tử 15,5g, sơn thù du 10g, trạch tả 10g, quế 10g, ngưu tất 10g, mẫu đơn bì 6g. Làm thành viên 2,5g, mỗi lần uống 4 viên, ngày 2 lần. Hoặc sắc với 800ml nước, còn 450ml, mỗi lần uống 150ml, ngày 3 lần.

  • Dùng trong bệnh sỏi niệu để thúc đẩy sự bài xuất sỏi:

a. Bệnh sỏi niệu thể nhẹ

Hạt mã đề 12 - 40g, kim tiền thảo 40g, thạch vĩ 20 - 40g, hoạt thach 20 - 40g, hải kim sa 12 - 40g, đông quỳ tử 12 - 20g, ngưu tất 12g, chỉ xác 12g, hậu phác 12g, vương bất lưu hành 12g. Có tác dụng bài xuất sỏi đường tiết niệu có đường kính 0.5 - 0,9 cm.

b. Bệnh sỏi niệu thể nặng

Hạt mã đề 12 - 40g, kim tiền thảo 40g, thạch vĩ 20 - 40g, hoạt thạch 20 - 40g, miết giáp 12 - 40g, tam lăng 20g, ý dĩ 20g, ngưu tất 20g, nga truật 20g, chỉ xác 12g, hậu phác 12g, tạo giác thích 12g, hạ khô thảo 12g, xuyên sơn giáp 12g, bạch chỉ l2g. Có tác dụng bài xuất sỏi đường tiết niệu có thể tích tương đối to hơn, lâu không di động.

  • Chữa viêm loét dạ dày tá tràng thể tỳ vị hư hàn, có thiểu toan dạ dày:

Mã đề 10g, hoàng bá 18g, đảng sâm 2g, ô mai 10 quả; phụ tử chế, hoàng liên, đương quy, mỗi vị 8g; quế chi, tế tân, can khương, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa tiêu chảy mạn tính:

Hạt mã đề 8g; cát căn, rau má, đảng sâm, cam thảo dây, mỗi vị 12g; cúc hoa 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa viêm gan cấp tính:

a. Mã đề 20g, nhân trần 40g, hạ khô thảo 20g, đại phúc bì 16g, đảng sâm 12g. Sắc uống ngày một thang.

b. Hạt mã đề, nhân trần, mỗi vị 20g; chi tử sao, phục linh, trư linh, trạch tả, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

c. Mã đề 16g, lá bọ mẩy 20g, ý dĩ 16g; nhân trần, đại phúc bì, mỗi vị 12g; chi tử, hương phụ, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa viêm gan mạn tính (Nhân trần ngũ linh thang gia giảm):

Mã đề 12g, nhân trần 20g; đảng sâm, ý dĩ mỗi vị 16g; bạch truật, phục linh, trạch tả, mỗi vị 12g; trư linh 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa viêm cầu thận cấp tính (Việt tỳ thang gia vị):

Mã đề 16g, thạch cao 20g; ma hoàng, bạch truật, đại táo, mỗi vị 12g; mộc thông 8g; gừng, cam thảo, quế chi, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa viêm cầu thận mạn tính (Vi linh thang gia giảm):

a. Mã đề 20g, ý dĩ 16g; thương truật, phục linh bì, trạch tả, mỗi vị 12g; quế chi, hậu phác, mỗi vị 6g; xuyên tiêu 4g. Sắc uống ngày một thang.

b. Mã đề, bạch truật, bạch thược, bạch linh, trạch tả, mỗi vị 12g; phụ tử chế, trư linh, mỗi vị 8g; can khương 6g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa viêm bàng quang cấp tính:

Mã đề 16g; hoàng bá, hoàng hiên, phục linh, rễ cỏ tranh, mỗi vị 12g; trư linh, mộc thông, hoạt thạch, bán hạ chế, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa bí tiểu tiện, đái dắt, đái buốt:

Bông mã đề 12g, cao ban long 20g, rễ cỏ tranh 12g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa sỏi tiết niệu kèm theo bội nhiễm đường tiết niệu:

a. Mã đề 20g, kim tiền thảo 40g, tỳ giải 20g; trạch tả, uất kim, ngưu tất, mỗi vị 12g; kê nội kim 8g. Sắc uống ngày một thang.

b. Mã đề 20g, kim tiền thảo 40g; sinh địa, đạm trúc điệp, mỗi vị l6g; mộc thông, cam thảo sao cháy, kê nội kim, môi vị 8g. Sắc uống ngày một thang. Nếu đái ra máu thêm: cỏ nhọ nồi 16g, tiểu kế 12g. Nến đau nhiều thêm : ô dược, uất kim, diên hồ sách, môi vị 8g.

  • Chưa sỏi tiết niệu gây sung huyết, chảy máu nhiều:

Mã đề 20g, kim tiền thảo 40g, ý dĩ 16g, ngưu tất 12g; đào nhân, uất kim, chỉ xác, vỏ cau, kê nội kim, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa sỏi tiết niệu nhỏ không có cơn đau, để làm tan sỏi hoặc bài tiết ra ngoài:

Hạt mã đề, kim tiền thảo, bạch mao căn, mỗi vị 20g, ý dĩ 12g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa khí hư:

a. Dịch hoàng thang: Hạt mã đề sao 4g; sơn dược, khiếm thực, mỗi vị 40g; hoàng bá 8g, bạch quả (đập nát) 10 quả. Sắc uống ngày một thang.

b. Long đởm tả can thang gia giảm: Mã đề, hạt mã đề, sơn chi, tỳ giải, ý dĩ, mỗi vị 12g; long đởm thảo, sài hồ, bạch thược, sinh địa, mộc thông, hoàng bá, phục linh, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Viêm tai giữa cấp tính:

Hạt mã đề, long đởm thảo, hoàng cầm, mộc thông, trạch tả, sinh địa, mỗi vị 12g; chi tử, đương quy, mỗi vị 8g; cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.