Giỏ hàng

NGHỆ VÀNG

NGHỆ VÀNG

Tên khoa học: Curcuma domestica Valet. (Tên đồng nghĩa: Curcuma longa L.)

Tên khác: Nghệ, khương hoàng, uất kim, co hem, co khản mỉn (Thái). Khinh lương (Tày).

Tên nước ngoài: Common turmeric, long turmeric (Anh); safran des Indes (Pháp).

Họ: Gừng (Zingiberaceae).

Mô tả

Cây thảo, cao 0,6 – 1m. Thân rễ to, có ngấn, phân nhánh thành nhiều củ hình bầu dục, màu vàng sẫm đến vàng đỏ, rất thơm. Lá mọc thẳng từ thân rễ, gốc thuôn hẹp, đầu hơi nhọn, dài 30 – 40 cm, rộng 10 – 15 cm, hai mặt nhẵn cùng màu lục nhạt, mép nguyên uốn lượn, bẹ lá rộng và dài.

Cụm hoa hình trụ hoặc hình trứng đính trên một cán mập dài đến 20 cm, mọc từ giữa túm lá; lá bắc rời, màu rất nhạt, những lá phía dưới mang hoa sinh sản, màu lục hoặc trắng nhạt, những lá gần ngọn không mang hoa hẹp hơn và pha màu hồng ở đầu lá; đài có 3 răng không đều; tràng có ống dài, cánh giữa dài hơn các cánh bên, màu vàng; nhị có bao phấn có cựa do một phần lồi ra của trung đới ở dưới các ô; nhị lép dài hơn bao phấn; cánh môi gần hình mắt chim, hơi chia 3 thuỳ; bầu có lông.

Quả nang, 3 ô, mở bằng van; hạt có áo.

Mùa hoa quả: tháng 3 - 5.

Ở miền Nam, loài nghệ vàng (Curcuma xanthorrhiza Roxb.) được dùng phổ biến hơn.

Phân bố, sinh thái

Nghệ vàng có nguồn gốc nguyên thủy có lẽ từ Ấn Độ. Từ thời xa xưa, cây đã được trồng ở nhiều nơi về sau trở nên hoang dại, trước hết là ở Trung Quốc. Vào thế kỷ thứ 7 đến thế kỷ thứ 8, cây được du nhập sang Đông Phi; đến thế kỷ 13, sang vùng Tây Phi và thế kỷ 18 người dân Jamaica mới tiếp xúc với cây nghệ vàng.

Ngày nay, nghệ vàng là một cây trồng quen thuộc ở khắp các nước vùng nhiệt đới, từ Nam Á đến Đông – Nam Á và Đông Á (Trimurti H. Wardini & Budi Prakoso, 1999, Curcuma L.; in L. S de Padua et al., PROSEA No 12(1) - Med. and Poi. Pls, 216).

Ở Việt Nam, nghệ vàng cũng được coi là một cây trồng cổ ở khắp các địa phương, từ vùng đồng bằng ven biển đến vùng núi cao trên 1500m. Ở một cố nơi thuộc huyện Quản Bạ, Yên Minh, Đồng Văn, Mèo Vạc (Hà Giang), Sìn Hồ, Phong Thổ (Lai Châu)... Chính loài nghệ vàng này đã trở nên hoang dại hoá ở các ruộng ngô, nương rẫy.

Nghệ là cây ưa ẩm, ưa sáng và có thể hơi chịu bóng, cây có biên độ sinh thái rộng, thích nghi được với nhiều tiểu vùng khí hậu khác nhau. Từ nơi có khí hậu nhiệt đới điển hình, nhiệt độ trung bình đến 25 - 26°C ở các tỉnh phía nam (không có mùa đông lạnh) đến những nơi có khí hậu cận nhiệt đới núi cao phía bắc, nhiệt độ trung bình dưới 20°C, với mùa đông lạnh kéo dài nghệ vàng vẫn tồn tại và sinh trưởng phát triển tốt. Toàn bộ phần trên mặt đất tàn lụi vào mùa đông ở các tỉnh phía bắc và mùa khô ở các tỉnh phía nam. Cây mọc lại vào giữa mùa xuân, có hoa sau khi đã ra lá. Hoa mọc trên những thân của những chồi năm trước. Những thân đã ra hoa thì năm sau không mọc lại nữa và phần thân rễ của chúng trở thành những “củ cái" già, sau l - 2 năm bị thối, cho những nhánh non nảy chồi thành các cá thể mới. Trên một cụm hoa, các hoa phía gốc nở trước và thời gian hoa nở kéo dài 3 – 4ngày. Hoa tự thụ phấn hoặc nhờ côn trùng. Nghệ vàng có trữ lượng khá dồi dào ở Việt Nam. Bên cạnh nguồn cung cấp do trồng trong nhân dân, một số địa phương phía bắc, nghệ mọc hoang dại hoá ước tính trữ lượng tới 1000 tấn. Người dân tộc H’ Mông, Dao, Hoa.... cho biết nghệ mọc hoang tràn lan ở ruộng ngô hiện nay là do trồng trọt còn sót lại, toàn bộ phần thân lá và củ già khi tàn lụi là nguồn phân bón cho ngô. Vì vậy, trong quá trình canh tác, họ không loại bỏ nghệ ra khỏi ruộng ngô.

Công dụng

Tính vị, công năng: Thân rễ nghệ vàng (khương hoàng) có vị cay đắng, mùi thơm hắc, tính ấm, có tác dụng hành khí, phá huyết, thông kinh, chỉ thống, tiêu mủ lên da non.

Rễ củ (uất kim) có vị cay đắng, hơi ngọt, tính mát, có tác dụng hành khí, giải uất, lương huyết, phá ứ.

Thân rễ nghệ được dùng chữa kinh nguyệt không đều, bế kinh, ứ máu, vùng ngực bụng trướng đau tức, đau liên sườn dưới, khó thở, sau khi đẻ máu xấu không ra, kết hòn cục đau bụng, bị đòn, ngã, tổn thương, ứ máu, dạ dày viêm loét, ung nhọt, ghẻ lở, phong thấp, tay chân đau nhức, vàng da.

Ngày dùng 2 – 6g dưới dạng bột hoặc thuốc sắc, chia 2 – 3 lần uống trong ngày.

Dùng ngoài, nghệ vàng tươi giã nhỏ vắt lấy nước để bôi ung nhọt, viêm tấy lở loét ngoài da, bôi lên các mụn mới khỏi để đỡ sẹo.

Ngoài ra, còn dùng curcumin làm chất nhuộm màu để bao viên, có màu vàng chanh sáng đẹp, màu bền vững; nhuộm vàng thực phẩm, nhuộm len, tơ, nhuộm da, giấy.

Rễ củ nghệ vàng chữa khí huyết uất trệ, bụng sườn đau, thổ huyết, ra máu cam, đái ra máu, điên cuồng và nhiệt bệnh hôn mê. Dùng ngoài, chữa vết thương lâu lên da (gĩa giập bôi lên vết thương). Ngày dùng 2 - 10g dạng bột hoặc thuốc sắc.

Kiêng kỵ: Cơ thể suy nhược, không có ứ trệ không dùng. Phụ nữ có thai không nên dùng.

Ở Ấn Độ, nghệ vàng được dùng làm chất nhuộm màu trong dược học, bánh kẹo và công nghệ thực phẩm. Trong y học Ấn Độ, nghệ vàng được sử dụng làm chất để tiêu, bổ và lọc máu, chữa sốt rét, trộn với sữa nóng trị cảm lạnh. Nước ép nghệ tươi được dùng làm thuốc chống ký sinh trùng trong nhiều bệnh ngoài da. Dùng nghệ vàng đắp ngoài, chữa những bệnh loét không đau. Dùng bột nhão làm từ bột thân rễ nghệ cùng với vôi để chữa đau khớp. Nước sắc thân rễ có tác dụng giảm đau trong viêm tấy có mủ. Cao nước thân rễ được dùng điều trị các bệnh về mật.

Trong y học Trung Quốc, nghệ vàng được dùng làm thuốc kích thích, bổ, giảm đau, cầm máu và tăng cường chuyển hoá, được chỉ định trong loét dạ dày, chảy máu dạ dày do loét (phối hợp với các dược liêụ khác), đái ra máu và các bệnh khác. Dùng ngoài dạng bột chữa vết thương, trĩ, viêm mủ da và bệnh nấm tóc. Mỗi lần uống 8 - 10 g dạng thuốc sắc và hãm. Dùng ngoài, dạng bột làm từ thân rễ phơi khô.

Ở Nepal, nghệ vàng được dùng làm thuốc kích thích, bổ, làm trung tiện, lọc máu. Dùng ngoài, chữa bong gân và vết thương. Nước sắc thân rễ nghệ dùng trong viêm tấy có mủ. Nước ép tươi chữa giun sán và chống ký sinh trùng trong nhiều bệnh ngoài da. Nghệ cũng được dùng làm thuốc chống dị ứng.

Ở các nước Đông Nam Á, nghệ vàng được coi là có tác dụng bổ dạ dày, gây trung tiện, cầm máu, chữa vàng da và bệnh gan khác. Dùng ngoài chữa ngứa, vết thương nhỏ, sâu bọ cắn, phát ban da, đậu mùa, và làm thuốc làm mưng mủ. Có tác dụng điều trị rối loạn kinh nguyệt, làm tăng tuần hoàn, làm tan cục máu đông, trị nhiễm khuẩn đường tiết niệu, đau bụng, ngực và lưng, tiêu chảy, thấp khớp, ho, lao phổi. Là thuốc chống co thắt, trị viêm lợi, có tác dụng diệt côn trùng, diệt nấm, diệt giun tròn. Ở Papua Niu Guinê, nghệ trị đau ở da, vết thâm tím, viêm xuất tiết và cảm sốt và làm gia vị.

Bài thuốc

A - Các bài thuốc của Hải Thượng Lãn Ông.

  • Chữa trúng phong bại liệt một bên:

Cây nghệ, rau sam, dây bìm bìm, lá cây đậu gió, cây xương bồ, huyết giác, đều 12g; quế chi 20g; hồi hương, đinh hương đều 12g. Tất cả tán nhỏ, trộn với một bát rượu và một chén nước tiểu mà bóp.

  • Chữa chứng trong bụng tích thành cục hoặc do đờm tích hay huyết tụ lại gây đau nhói:

Củ nghệ, củ gấu đều bằng nhau, cam thảo một ít, tán bột làm viên. Dùng gừng 3 lát, tử tô 3 lá, muối 2g, sắc nước uống làm thang. Có thể uống thuốc với rượu lúc đói càng tốt.

  • Chữa đái ra máu:

Nghệ tán nhỏ 40g, hành trắng 1 nắm. Sắc uống, chia 3 lần trong ngày.

  • Chữa ra nhiều mồ hôi:

Nghệ vàng, củ sữa bò, ngũ bội tử đều tán nhỏ, trộn với nước, rịt vào rốn.

  • Chữa phụ nữ bị uất mà sinh điên cuồng, kinh giản:

Nghệ 280g, phèn chua 120g, tán nhỏ viên với hồ, mỗi lần uống 12g với nước sôi.

  • Chữa lở ngứa, ghẻ:

Củ nghệ, hạt máu chó, hạt củ đậu, đều bằng nhau, diêm sinh một ít, tán nhỏ, hoà với mỡ lợn hay dầu vừng mà bôi.

  • Chữa trĩ lở sưng đau:

Nghệ, phèn xanh tán nhỏ, trộn vớt mật lợn và mỡ lợn mà bôi.

  • Chữa sai khớp xương, bong gân:

Củ nghệ, quế, hồi hương, định hương, vỏ sòi, vỏ núc nác, gừng sống, lá canh châu, lá đau xương, mủ xương rồng bà, lá thầu dầu tía, lá náng, lá kim cang, lá mua, huyết giác, hạt chấp, hại máu chó, lá bưởi bung, lá tầm gửi cây khế (nếu có sưng cơ thì bỏ lá đau xương, thêm giấm). Các vị trên giã, sao nóng mà chườm.

  • Chữa huyết ứ, gây đau vùng tim:

Củ nghệ đốt tồn tính tán bột, mỗi lần uống 4 g với giấm thanh đun sôi hay nước tiểu trẻ em làm thang.

B - Các bài thuốc khác:

  • Chữa viêm loét dạ dày tá tràng, đau vùng dạ dày, ợ hơi, ợ chua:

a. Nghệ 10g, trần bì 12g, khổ sâm 12g, hương phụ 10g, bồ công anh 10g, ngải cứu 8g. Dùng dạng thuốc bột, ngày uống 10 – 20g, chia 2 lần.

b. Nghệ 12g, đỗ đen sao 20g, sâm Bố Chính 12g, hoài sơn 12g, thổ phục linh 10g, trần bí 10, mật ong hoặc đường 10g. Dạng thuốc hoàn, ngày uống 10 – 20g.

c. Nghệ, mộc hương nam, mật ong, lá khôi. Tán bột, làm thành viên nén uống.

  • Chữa viêm gan, suy gan, vàng da:

a. Nghệ 5g, bồ bồ 10g, chi tử 5g, râu ngô 5g, siro đơn hoặc tá được vừa đủ. Làm thành sirô hoặc cốm.

b. Nghệ 6 – 12g, nghệ đen, hương phụ, quả quất non, tán bột, trộn với mật ong làm viên uống.

c. Nghệ 2g, rau má 4g, hoàng bá nam 3g, nhân trần hoặc bồ bồ 3g, sài hồ nam 2g, dành dành 2g, nhọ nồi 2g, hậu phác nam 2g.

Nghệ, dành dành, hậu phác được tán bột mịn, các vị khác nấu cao nước. Làm viên hoàn, ngày uống 10g, chia 2 lần.

  • Phòng và chữa bệnh sau khi đẻ:

a. Nghệ một củ, nướng, nhai ăn, uống với rượu hay đồng tiện.

b. Nghệ đốt tồn tính, tán bột, uống 8g với giấm.

  • Chữa thổ huyết, máu cam:

Nghệ tán nhỏ, ngày uống 4 - 6g, chiêu với nước.

  • Chữa đái ra máu hay đái buốt:

Nghệ và hành sắc uống.

  • Chữa trĩ:

Mài nghệ bôi vào.

  • Chữa viêm cơ, hoại tử của trĩ và của viêm tắc động mạch (cao gia truyền):

Nghệ tươi 1kg, lá phù dung tươi 100g, thiên niên kiện 30g, cốt toái bố 30g, mai ba ba 30g, hồng đơn 20g, con rết 20g, long não 10g, sáp ong 50g, than tóc rối 20g, dầu thực vật (vừng, lạc) 1 lít.

Nghệ thái lát mỏng. Đun dầu sôi cho lá phù dung và nghệ vào đun sôi 1 giờ. Khi nghệ khô quắt thành màu nâu thì vớt ra, cho các vị thuốc trên (đã giã nhỏ). Ðun tiếp một giờ nữa, vớt thuốc ra lọc, lại đun tiếp một giờ. Sau đó bắc nồi xuống khi còn nóng khoảng 60°C, cho long não và sáp ong, hồng đơn vào quấy đều. Để nguội đóng lọ sạch để dùng dần.

Bôi cao nghệ vào các búi trĩ và các chỗ hoại tử do viêm tắc động mạch, băng vô trùng.

  • Chữa chứng điên cuồng, tức bực lo sợ:

Nghệ 250g, phèn chua 100g, tán nhỏ viên với hồ thành hạt ngô, uống mỗi lần 50 viên (có thể uống mỗi lần 4 - 8g, ngày 2 lần)

  • Chữa lên cơn suyễn khó thở:

Nghệ tươi 100g, giã nát, hòa với đồng tiện, vắt lấy nước cốt uống.

  • Kem nghệ bôi chữa bỏng:

Cao nghệ 5ml, vaselin 43g, dầu lạc 20ml, Na borat 4g, lanolin 1g, nước cất 30ml, trộn đều (cao nghệ là cao chiết với cồn 900 của bột nghệ)

  • Cao dán nhọt:

Nghệ 60g, củ ráy 80g, dầu vừng 80g, nhựa thông 40g, sáp ong 40g.

Củ ráy gọt sạch vỏ, cùng giã với nghệ cho thật nhỏ, cho vào nấu nhừ với nhựa thông, dầu vừng và sáp ong. Lọc để nguội, phết lên giấy bản dán vào mụn nhọt.

  • Chữa sỏi mật làm mòn sỏi (Đởm đạo bài thạch thang):

Nghệ 12g, kim tiền thảo 40g; mộc hương, nhân trần, chỉ xác, đại hoàng, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

  • Viêm màng phổi do lao:

Nghệ 12g, hoàng cầm, ý dĩ, mỗi vị 16g; huyền sâm, đại táo, mạch môn, bách bộ, chỉ xác, mỗi vị 12g; đại táo 10 quả, thương truật 8g; nguyên hoa, cam toại, đại kích, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa viêm gan virus cấp tính:

Nghệ 12g; nhân trần, bồ công anh, rễ cỏ tranh, mỗi vị 40g; chi tử 16g, đại hoàng sao 12g, hoàng liên 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa viêm gan virus mạn tính (Thiên kim đại phúc thủy phương):

Nghệ 4g; côn bố, đình lịch, mỗi vị 12g; kiên ngưu, hải tảo, mỗi vị 10g, quế tâm 6g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa kinh nguyệt không đều:

Nghệ 8g; ích mẫu, kê huyết đằng, mỗi vị 16g; sinh địa 12g; xuyên khung, đào nhân, mỗi vị 8g. Sắc uống.

  • Chữa đau kinh:

a. Nghệ 12g, ích mẫu 20g; sinh địa, huyền sâm, mỗi vị 16g, địa cốt bì 12g; đào nhân, hương phụ, thanh bì, mỗi vị 8g. Sắc uống trong ngày.

b. Nghệ 8g, ích mẫu 16g; đào nhân, xuyên khung, ngưu tất, hương phụ, mỗi vị 8g. Sắc uống trong ngày.