Giỏ hàng

RAU SAM

RAU SAM

Tên khoa học: Portulaca oleracea L.

Tên khác: Mã xỉ hiện, phjăc bỉa, slổm ca (Tày).

Tên nước ngoài: Garden purslane, purple-flowered purslane, vegetable portulaca (Anh); pourpier commun, pourpier potager, porcellane (Pháp).

Họ: Rau sam (Portulacaceae)

Mô tả

Cây thảo, sống hàng năm mọc bò. Thân hình trụ, mập, mọng nước, nhẵn, màu đỏ tím nhạt, dài 15 – 30cm, phình lên ở những mấu. Lá mọc so le hoặc gần đối, phiến dày, phẳng, hình nêm, dài 0,8 – 1,5cm, rộng 5 – 8mm, gốc thuôn dần thành cuống ngắn, đầu lá bẹt, mép có viền đỏ, không có lá kèm.

Hoa màu vàng, mọc đơn độc hoặc tụ tập ít hoa ở ngọn thân, lá bắc hình tam giác, dạng vảy, lá dài 2, hình tam giác nhọn không đều, cánh hoa 5, hình trứng ngược, khuyết ở đầu, to hơn lá đài, nhị 8 – 10, bao phấn hình mắt chim, bầu trung.

Quả nang hình cầu hoặc hình trứng, mở theo một đường tròn ngang ở giữa quả thành cái nắp, chứa nhiều hạt, màu đen bóng.

Mùa hoa quả: tháng 6 – 8.

Phân bố, sinh thái

Chi Portulaca L. có khoảng 40 loài trên thế giới, phân bố chủ yếu ở vùng nhiệt đới và cận nhiệt đới. Vùng Đông – Nam Á có 5 loài, trong đó Việt Nam có 4 loài. Rau sam có lẽ là loài phân bố rộng rãi nhấ so với các loài còn lại.

Cây còn được trồng làm rau ăn ở Ấn Độ, Malaysia, Thái lan, Campuchia và Trung Quốc.

Ở Việt Nam, râu sam có ở khắp nơi, cây ưa ẩm, ưa sáng song cũng có thể chịu được hạn hoặc bị che bóng một phần. rau sam thường mọc ở vườn, bãi song, ruộng trồng hoa màu và các bãi hoang quanh làng. Cây mọc thành từng đám, vì sau khi quả chín, tự mở để hạt phát tán xung quanh gốc mẹ. Hạt rau sam còn được phát tán nhờ nước khi trời mưa. Hoa nở trong thời gian 2 – 3 giờ, vào buổi sáng, hiện tượng tự thụ phấn thường xảy ra trước lúc hoa nở, sau 2 tuần, quả đã già. Vòng đời của cây kéo dài từ 3 đến 4 tháng. Cây con mọc từ hạt xuất hiện vào màu xuân hè.

Trong trồng trọt, rau sam là loại cỏ dại ảnh hưởng đến cây trồng.

Công dụng

Rau sam, có vị chua, tính lạnh, không độc, vào kinh can, đại tràng, có tác dụng thanh nhiệt giải độc, mát máu, tiêu sưng, sát trùng, lợi tiểu.

Rau sam thường được dùng chữa lỵ trực khuẩn, lở ngứa, giun kim.

Liều dùng: 15 – 20g cây khô dưới dạng thuốc sắc, dùng riêng hay phối hợp với thuốc khác. Hoặc có thể uống 250g tươi. Trẻ em từ 6 tháng trở lên uống liều 50gg tươi, có thể đến 100 – 200g mọt ngày. Còn dùng làm lợi tiểu. Dùng ngoài, rau sam giã nát đắp chữa mụn nhọt. viêm kết mạc cấp do những vi khuẩn thông thường như tụ cầu, liên cầu và vi khuẩn khác.

Trong y học dân gian Trung Quốc, rau sam được dùng với các công dụng sau:

  • Chữa viêm ruột, lỵ trực khuẩn. Mỗi ngày dùng 1kg cây tươi hoặc 250g cây khô, sắc nước, chia 3 lần uống trong ngày.
  • Chữa eczema, viêm da do sán vịt. dùng cả cây sắc uống, đắp ngoài hoặc rửa.
  • Xuất huyết tử cung sau đẻ, mổ để, nạo thai, hoặc xuất huyết cơ năng. Dùng thuốc tiêm bắp hoặc tiêm trực tiếp vào tử cung.
  • Chữa viêm ruột thừa cấp, giun móc, các bệnh lâu, bệnh do Trichomonas, viêm khớp do giang mai, các bệnh gan, thận, chứng thiếu vitamin, baaij liệt do bệnh nhiễm khuẩn, thuốc chống độc khi bị rắn độc và sâu bọ cắn. Dùng hạt rau sam phối hợp với các dược liệu khác làm thuốc hạ sốt. Dùng tại chỗ để chữa bệnh nấm và viêm da mủ.

Ở Ấn Độ, rau sam được coi là thuốc làm mát, chữa thương tích, chống bệnh scorbut, nhuận tràng và lợi tiểu. Tác dụng lợi tiểu có lẽ do có tỷ lệ cao muối kali. Nó có tác dụng tốt trong bệnh scorbut và các bệnh về gan, lách, thận và bàng quang, khó đái, đái ra máu, bệnh lậu, sưng núm vú và loét miệng. Nước ép rau sam đôi khi dùng chữa đau tai và đau rang. Trong liệu pháp vi lượng đồng căn, cây được dùng để tăng tiết dịch vị và để lọc máu. Thuốc nhão từ lá rau sam được đắp chữa bỏng, bệnh vẩy da, sưng phù và viêm quầng. Lá và ngọn được dùng đắp để chống chảy máu.

Hạt rau sam rang vàng có tác dụng lợi tiểu và chống lỵ, và cũng được dùng đắp chữa bỏng và bệnh vẩy da.

Ở Haiti, rau sam được dùng trong y học cổ truyền dưới dạng thuốc sắc để chữa suy nhược. Ở Italia, nước hãm toàn cây trị giun, dùng ngoài đắp vào bụng trong trường hợp tăng tiết acid dịch vị, và dùng nước hãm hạt và lá trị lỵ, nhiễm khuẩn đường niệu – sinh dục. Ở Nigiêria, rau sam trị chứng đau cơ.

Bài thuốc

  • Chữa lỵ:

a. Rau sam, cỏ sữa lá nhỏ, mỗi vị 100g, sắc với 400ml nước, chia hai lần uống trong ngày. Nếu đi ngoài ra máu, thêm cỏ nhọ nồi và rau má mỗi vị 20g.

Nếu muốn sắc một lần để dùng nhiều ngày cần thêm 0,5g natri benzoate hay 0,3g nipagin để bảo quản. Có thể sắc thêm như trên rồi đóng ống 5 ml (không cần thêm thuốc bảo quản), hàn ngay và hấp tiệt trùng.

Trẻ em dưới 6 tháng tuổi, ngày uống 4 lần, mỗi lần 5ml; 6 tháng đến 1 tuổi, ngày uống 4 lần, mỗi lần 10ml, 2 tuổi trở lên mỗi tuổi thêm 5ml.

b. Rau sam, cỏ nhọ nồi, cỏ sữa lá to, lá nhót, búp ổi, mỗi vị 10g. Dạng thuốc bột, thuốc hoàn, ngày uống 2 -3 lần, mỗi lần 15g.

c. Rau sam 40g, cỏ nhọ nồi 50g, chỉ xác, hạt cau, lá trắc bá, vỏ rụt hòe, mỗi vị 20g. Tán bôt, ngày uống 20g với nước vối.

d. Rau sam 20g, cỏ sữa lá nhỏ 16g, cam thảo đất 12g, tử tô 12g, cỏ mần chầu 12g, kinh giới 12. Dạng thuốc bột, thuốc hoàn ngày uống 2 – 3 lần, mỗi lần 10 – 12g. Nếu bệnh cấp, có thể sắc uống.

  • Trừ giun kim:

Rau sam 50g tươi, rửa sạch, thêm ít muối giã nhỏ, vắt lấy nước, hòa thêm đường, uống vào buổi tối. Dùng 3 ngày.

  • Chữa đái buốt, đái ra máu:

Rau sam tươi, giã vắt lấy nước uống thường xuyên. Hoặc nấu cnah rau ăn hàng ngày. Dùng 3 – 7 ngày.

  • Chữa xích bạch đới:

Rau sam tươi (100g) giã nát vắt lấy nước, hòa với lòng trắng trứn gà, hấp chín, dùng trong ngày, liêm tục 3 – 5 ngày.

  • Chữa chốc đầu trẻ em:

Rau sam tươi giã nát, thêm nước, sắc đặc hoặc đốt ra than hòa với mỡ lợn, bôi nhiều lần trong ngày.

  • Chữa đinh râu:

Lá rau sam phối hợp với lá cỏ xước, giã nát.

  • Trẻ em sốt phát ban:

Rau sam tươi giã nát vắt lấy nước cốt cho uống, bã đắp.

  • Chữa trúng phong bại liệt một bên:

Rau sam, dây bìm bìm, nghệ, lá đạu gió, xương bồ, huyết giác, hồi hương, đinh hương, mỗi vị 12g, quế chi 20g. Các vị đều tán nhỏ, troonhj với 1 bắt rượu và 1 chén nước tiểu mà bóp.

  • Chữa đầy bụng khó tiêu:

Rau sam tươi một nắm to, cho vào cối với một nhúm muối và một chén giấm, giã nhỏ, chắt lấy nước cốt uống. Dùng vài lần

  • Chữa đau vú:

Rau sam phối hợp với thanh đại, giã nhỏ.

  • Thuốc giải độc:

Khi uống nhầm thuốc có chất độc, dùng rau sam thật nhiều giã vắt lấy nước cốt 100ml cho uống, bã đắp và rốn. Ngày làm 4 – 5 lần.