Giỏ hàng

SÂM BỐ CHÍNH

SÂM BỐ CHÍNH

Tên khoa học: Hibiscus sagittifolius Kurz var. quinquelobus Gagnep.

Tên khác: Thổ hào sâm, nhân sâm Phú Yên.

Họ: Bông (Malvaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống lâu năm, cao 30 – 50cm hay hơn. Rễ hình trụ mập, màu trắng nhạt hoặc hơi vàng. Cành hình trụ, màu đỏ nhạt, mọc lan tỏa, có lông dày cứng. Lá mọc so le, đa dạng, có lông, mép khía răng, lá pgias gốc hình trái xoan, không xẻ thùy, gốc hình tim hay hình mũi tên, đầu tù, lá giữa và lá ở ngọn xẻ 5 thùy hẹp hoặc đôi khi 3 thùy tạo thành hình mũi tên, hai mặt lông đơn hay lông hình sao, gân lá hình chân vịt, cuống lá dài khoảng 2,5cm, lá kèm hình chỉ.

Hoa màu đỏ hay hồng mọc riêng lẻ ở kẽ lá trên một cuống dài 5 – 8cm, phủ đầy lông, đường kính khoảng 8cm, tiểu đài có 7 – 10 răng hẹp dài, có lông tua tủa, đài có 5 răng nhỏ bị khía rách và rụng sớm, tràng 5 cánh hình nêm, nhị nhiều, hàn liền thành một cột nhẵn, bao phấn phủ lên cột đến tận gốc.

Quả hình trứng nhọn, có khía dọc, phủ đầy lông cứng, khi chín nứt thành 5 mảnh, hạt hình thận, màu nâu.

Mùa hoa: tháng 5 – 9.

Phân bố, sinh thái

Loài Hibiscus sagittifolius Kurz được giả thiết có nguồn gốc ở phía anm Trung Quốc, sau phát triển dần xuống phía nam của châu Á, trong đó có Việt Nam. Ở Việt Nam, loài này có 2 thứ là:

Sâm Báo chỉ thấy ở một vài điểm thuộc tỉnh Thanh Hóa, là cây đặc biệt quý hiếm và sâm Bố Chính, cây vốn mọc tự nhiên ở một số điểm thuộc vùng núi thấp phía bắc (Quảng Ninh, Hải Phòng…). Sâm Bố Chính đã được trồng từ lâu ở hầu hết các tỉnh đồng bằng và trung du Bắc Bộ. Một số địa phương ở tỉnh Hưng Yên, Hải Dương, Bắc Ninh, Vĩnh Phúc… Trồng nhiều cây thuốc này, để cung cấp cho thị trường. Còn một thứ tương tự nhue Sâm Báo, mọc tự nhiên khá phổ biến dưới tán rừng thưa rụng lá ở Tây Nguyên: Yoóc Đôn, Easúp – Đắc Lắc, Kon Ch’rò, Chư Prông – Gia Lai hoặc ở đồi cỏ Phú Yên chưa xác định được tên khoa học.

Sâm Bố Chính là cây ưa sáng và ưa ẩm, thích nghi được với nhiều loại đất, như đất mùn dưới chân núi, đất pha cát, đất phù san ven song …, sinh trưởng phát triển mạnh trong màu mưa ẩm. Sau khi có hoa quả, toàn bộ phần trên, mặt đất bị tàn lụi vào mùa đông. Quả Sâm Bố Chính khi già tự mở, hạt nảy mầm tự nhiên vào khoảng tháng 3 – 4 năm sau.

Công dụng

Rễ Sâm Bố Chính có vị ngọt, hơi nhớt, tính bình, vào 2 kinh, tỳ phế, có tác dụng bổ khí, ích huyết, chỉ khát, sinh tân dịch, sao với gạo thì tính ấm, bổ tỳ vị, giúp tiêu hóa, thêm sức mạnh.

Rễ Sâm Bố Chính chữa cơ thể suy nhược, kém ăn, kém ngủ, đau lưng, đau mình, các chứng ho sốt nóng, trong người khô, táo bón, khát nước, gầy còm. Có khi được dùng làm thuốc thông tiểu tiện, điều kinh, chữa bệnh phổi và bạch đới.

Liều dùng: ngày 16 – 20g dưới dạng thuốc sắc hoặc bột.

Kiêng kỵ: thể trạng hư hàn phải tẩm nước gừng, sao kỹ.

Bài thuốc

  • Chữa sốt nóng lâu, khát nước, ra mồ hôi:

Sâm bố chính 20g, thục địa 30g, nhục quế 3g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa ra mồ hôi nhiều, người còn ấm, chân tay quyết lạnh:

Sâm Bố Chính 20g, hoàng kỳ 80g, (tẩm nước phòng phong sao) đương quy 20g (tẩm mật rượu sao), phục linh 12g (tẩm sữa), chính thảo 8g, lộc nhung 8g, (tẩm rượu nướng), long cốt 8g, mẫu lệ 8g, (đều nung nghiền nhỏ). Sắc uống trong ngày.

  • Chữa gầy yếu hay béo bệu, kém ăn, mệt mỏi, khí đoản, đày bụng đi lỏng hoặc hư hỏa phát nóng, phiền khát:

Sâm Bố Chính 40g, bạch truật 20g (sao mật), hoàng kỳ 8g (sao mật), liên nhục 6g, mạch môn 4g, ngũ vị 4g (sao mật), chích thảo 4g, phụ tử chế 1,2g, táo ta vài quả, gừng nướng vài lát. Sắc uống trong ngày.

  • Chữa tiêu hoám bài tiết bị ngừng trệ:

Sâm Bố Chính 20g, bạch truật 40g (tẩm sữa sao), trầm hương 4g. Sắc riêng sâm Bố Chính và bạch truật rồi mài trầm hương vào, uống trong ngày.

  • Chữa trẻ em gầy còn xanh xao, hay đi lỏng, lỵ kéo dài:

Sâm Bố Chính sao chín 25%, hoài sơn sao chín 30%, ý dĩ chín 20%, hạt sen sao chín 15%, bạch chỉ sao chín 10%. Các vị đem tán nhỏ rây bột mịn, cho uống sống với nước dùng haowcj trộn với đường đun chảy. Trẻ em 2 tuổi trở lên, ngày 4 – 10g.

  • Chữa rối loạn kinh nguyệt:

Sâm Bố Chinhs16g, cỏ nhọ nồi sao vàng, thục địa, mỗi vị 20g, ngải cứu sao, ích mẫu, mỗi vị 16g, củ gai (cây gai làm bánh) 12g, củ gấu (tứ chế) 10g. Sắc uống trong ngày.

  • Chữa suy nhược co thể ở người có bệnh về hô hấp:

Sâm Bố Chính 12g, liên nhục 20g, táo nhân, tua sen, sa sâm, mỗi vị 12g, lá vông, hương phụ, mỗi vị 10g, kỷ tử 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa suy nhược co thể ở người có bệnh về tiêu hóa, sau khi ốm nặng hoặc lao động vất vả:

Sâm Bố Chính 180g, hoài sơn, hạt sen, mỗi vị 80g, bạch truật 40g, binh lang 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa suy nhược gầy rộc, háo khát, táo bón, đái són:

Sâm Bố Chính nấu thành cao, hòa với cao ban long uống.

  • Chữa giai đoạn hồi phục sau áp xe phổi:

Sâm Bố Chính, hồi sơn, mỗi vị 16g, sinh địa, ý dĩ, bách hợp, kim ngân hoa, mỗi vị 12g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa thiếu máu:

Sâm Bố Chính, hà thủ ô, hạt sen, mỗi vị 100g, cam thảo 40g, thảo quả 12g, đại hồi 8g. Tán nhỏ làm viên, ngày uống 20g, chia 2 lần.

  • Chữa tim đạp nhanh hồi hợp, ngủ ít:

Sâm Bố Chính 20g, hạt sen, củ mài, hà thủ ô, rau má, quả dâu chín, long nhãn, mỗi vị 12g, táo nhân, bá tử nhân, mỗi vị 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa đái ra dưỡng chấp:

Sâm Bố Chính, ý dĩ, tỳ giải, huyền sâm, trúc diệp, liên nhục, củ mài, rễ cỏ tranh, cam thảo nam, mã đề, mỗi vị 12g, hoạt thạch 6g. sắc uống ngày một thang.

  • Chữa bệnh trầm cảm:

Sâm Bố Chính 16g, hoài sơn, hà thủ ô, long nhãn, bá tử nhân, mỗi vị 12g, táo nhân, liên tu, bán hạ chế, xương bồ, cam thảo dây, mỗi vị 8g, nhục quế 4g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa động kinh;

Sâm Bố Chính 20g, ý dĩ 40g, nam tinh sao, trần bì, toàn yết, mỗi vị 20g, quế 4g. Tán thành bột mịn, ngày dùng 40g. Sau đó lấy chu sa 1g cho vào tim lợn, hấp cách thủy, cho người bệnh ăn, mỗi tuần ăn 3 lần, trong 3 tuần liền.

  • Chữa giai đoạn phục hồi sau khi bị bỏng:

Sâm Bố Chính, hoài sơn, ý dĩ, mỗi vị 16g, bạch truật, sa sâm, thục địa, hà thủ ô, kê huyết đằng, mỗi vị 12g, kỷ tử 10g, trần bì 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa suy nhược thần kinh:

a. Sâm Bố Chính 20g, hoàng kỳ 12g, đương quy, bạch truật, táo nhân, long nhãn, mộc hương, bạch thược, cúc hoa, mỗi vị 8g, bạch linh, viễn chí, mỗi vị 6g. Sắc uống ngày một thang.

b. Sâm Bố Chính, sinh địa, mỗi vị 20g, hoàng cầm, sài hồ, đại táo, mỗi vị 12g, đương quy, bạch thược, mỗi vị 8g, xuyên khung 6g, cam thảo 4g. Sắc uống ngày một thang.

  • Thuốc bổ dùng cho bệnh nhân hen khi đỡ lên cơn;

a. Sâm Bố Chính 200g, đậu đen 500g, hà thủ ô, ngải cứu, củ đinh lăng, mỗi vị 200g, mật ong vừa đủ. Tán nhỏ, làm hoàn. Ngày uống 24g, chia hai lần.

b. Sâm Bố Chính 200g, rễ dâu tằm 160g, can khương 120g, vỏ quýt 120g, tắc kè 4 con (băm nhỏ sao vàng), mật ong vừa đủ. Các vị tán nhỏ, luyện mật làm hoàn 12g. Mỗi lần uống 1 hoàn, ngày 2 lần.

  • Thuốc bổ thận tráng dương, chữa thận yếu, kém dương sự:

Sâm Bố Chính 1000g, đậu đen 1500g, hoài sơn, liên nhục, cẩu tích, sừng nai, tục đoạn, ba kích, liên tu, mỗi vị 1000g, hoàng tinh 500g, hạt tơ hồng 200g

Ba kích tẩm muối sao vàng, đậu đen sao tồn tính, sừng nai đắp đất sét nung tồn tính, các vị khác tán nhỏ, hợp lại làm viên. Mỗi lần uống 8 -12g, ngày 2 lần.

  • Thuốc tăng lực chữa kém ăn, mất ngủ, mệt mỏi, nặng ngực, thiếu máu xanh xao:

Sâm Bố Chính 120g, hoàng tinh chế 80g, tầm gửi cây dâu, quả dâu, thỏ ty tử sao, hà thủ ô (chết), đỗ trọng, mỗi vị 40g, huyết giác, ba kích, cao hổ cốt, mỗi vị 20g. Các vị sơ chế, ngâm 2 lit rượu trong hai ngày đêm rồi đem chưng cách thủy, hạ thổn một tuần. Mỗi lần uống 15 – 40 ml, ngày 2 lần theo bữa ăn. Kiêng ăn đồ tanh sống, kích thích.

  • Chữa thận khí suy kém, nặng đầu mỏi lưng, nóng nhiều, mỏi mệt, yếu sức:

Sâm Bố Chính 6g, hà thủ ô 12g, củ mài, cốt toái bổ, gạc nai nướng, tầm gửi cây dâu, mỗi vị 6g, mẫu đơn, nhụy sen, mỗi vị 4g. Sắc uống ngày một thang.

  • Hoàn đại bổ:

Sâm Bố Chính, củ đinh lăng, mỗi vị 100g, hà thủ ô đỏ 60g, trần bì 20g, rau thai nhi 1 bộ, mật ong vừa đủ. Rau thai lấy pử phụ nữ đẻ con so, không có bệnh, cắt bỏ màng gân, lấy rau tươi đỏ, cào ra từng miếng để trên dĩa gốm sứ sấy cách thủy đến khô. Rễ đinh lăng cạo bỏ vỏ ngoài, thái mỏng phơi khô sao qua. Các vị tán nhỏ luyện mật làm hoàn 12g. Ngày uống 1 hoàn trước khi đi ngủ. Uống 15 ngày là một liệu trình.

  • Thuốc bổ khí huyết:

Sâm Bố Chính 30g, hoài sơn, đương quy, ý dĩ sao, mỗi vị 15g, hồi đầu 12g. Làm viên với mật ong hay kẹo mạch nha, uống mỗi ngày 15 – 20g.