Giỏ hàng

BỒ KẾT

BỒ KẾT

Tên khoa học: Gleditsia fera (Lour.) Merr.

Tên khác: Bồ kết, chùm kết, tạo giác, phắc kết (Tày), co kết (Thái).

Tên nước ngoài: Locust (Anh), févier de Chine (Pháp)

Họ:  Vang (Caesalpiniaceae).

Mô tả

Cây gỗ to, cao 5-7m. Thân thẳng có vỏ nhẵn và gai to, cứng, phân nhánh, dài 10-25cm. Cành mảnh, hình trụ, khúc khuỷu, lúc đầu có lông sau nhẵn và có màu xám nhạt. Lá kép, mọc so le, hai lần lông chim, cuống chung dài 10-12cm hay hơn, có lông nhỏ và có rãnh; lá chét 6-8 đôi mọc so le, hình thuôn, bóng và hơi có lông ở mặt trên, nhạt hơn và nhẵn ở mặt dưới, đầu lá chét tròn, gốc lá lệch, mép có răng cưa nhỏ; lá kèm nhỏ, rụng sớm.

Cụm hoa mọc thành chùm ở ngoài kẽ lá, dài 10-15cm; hoa màu trắng tụ họp 2-7 cái trên những cành ngắn; đài hình ống; tràng 5 cánh; hoa đực có 10 nhị và không có bầu; hoa lưỡng tính có 5 nhị, bầu có nhiều lông đựng 12 noãn.

Quả đậu mỏng, dài 10-12cm, rộng 1,5-2cm, thẳng hoặc hơi cong, dày lên ở các hạt, khi còn tươi mặt ngoài có một lớp phấn màu lam, chứa 10-12 hạt bao bọc bởi một lớp cơm màu vàng, khi chín quả màu vàng nâu, để lâu chuyển sang đen.

Mùa hoa: tháng 5-7; mùa quả: tháng 8-10.

Phân bố, sinh thái

Chi Gleditsia L. chỉ có vài chục loài, hầu hết Hải Phòng (đảo Cát Bà), Quảng Ninh, Hà Nam, Thanh Hóa, Nghệ An…Ở Tây Nguyên, Bồ kết được trồng nhiều để tạo bóng mát và chắn gió cho các lô cà phê. Cây cũng được trồng ở nhiều nước khác trên thế giới như Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Campuchia, Trung Quốc.

Bồ kết là loại cây gỗ lớn mọc nhanh, cây ưu sáng, thường mọc ở rừng thứ sinh, đôi khi thấy cả ven rừng núi đá vôi. Cây ra hoa quả nhiều hàng năm, nhưng tỷ lệ kết quả phụ thuộc vào thời tiết. Năm nào mưa nhiều đúng vào thời kỳ ra hoa thì thu được ít quả. Bồ kết rụng lá vào mùa đông. Lá non mọc lại vào cuối mùa xuân năm sau. Cây trồng bằng hạt sau 4 năm ra hoa quả lứa đầu tiên, các năm sau càng nhiều hơn. Bồ kết có khả năng tái sinh chồi sau khi chặt.

Công dụng

Quả Bồ kết có vị cay, mặn, tính ôn, có tác dụng thông khiếu, khử đờm, tiêu thủng, có tiểu độc.

Hạt Bồ kết có vị cay, tính ôn, có tác dụng nhuận táo, thông đại tiện, bí kết, tiêu độc.

Gai Bồ kết có vị cay, tính ôn, có tiểu độc, có tác dụng tiêu thũng, bài nùng, sát trùng, khư phong.

Ở Việt Nam, nhân dân dùng quả Bồ kết ngâm hoặc nấu nước gội đầu, làm sạch gầu, trơn tóc và dùng giặt quần áo len, dạ, lụa có màu, không bị hoen ố và không phai màu.

Trong y học hiện đại, một số bệnh viện đã dùng Bồ kết để chữa bí đại, trung tiện sau khi mổ, tắc ruột, dùng cho cả trẻ em và người lớn. Cách dùng: lấy ¼ quả nướng thật vàng, bỏ hạt, tán thành bột mịn. Chấm bột đó vào dầu canule đưa sâu vào hậu môn 3-4cm, làm như vậy 3-4 lần, sau 3-5 phút, bệnh nhân đánh trung tiện và thông đại tiện.

Quả Bồ kết còn được dùng trong các trường hợp trúng phong, hôn mê bất tỉnh, cấm khẩu, hen suyễn, mụn nhọt, viêm tuyến vú, đau nhứt răng.

Hạt Bồ kết chữa đại tiện táo kết, lỵ mạn tính, ỉa mót rặn, lao hạch, ung độc. Liều dùng: 4,5-9g/ngày, sắc nước uống hoặc dùng dạng hoàn tán.

Gai Bồ kết chữa mụn nhọt, tuyến vú sưng đau.

Kiêng kỵ: phụ nữ có thai không được dùng Bồ kết.

Bài thuốc

  • Chữa trúng phong, cấm khẩu hôn mê bất tỉnh

Quả Bồ kết phối hợp với bạc hà mỗi thứ lượng bằng nhau, tán thành bột mịn, thổi bột đó vào mũi để gây hắt hơi và làm bệnh nhân tỉnh lại.

  • Chữa hen suyễn, ho nhiều đờm, thở khò khè

Quả bồ kết 1g, quế chi 1g, đại táo 4g, cam thảo 2g, sinh khương 1g, nước 600ml, sắc còn 200ml, chia làm 3 lần uống trong ngày.

  • Chữa sâu răng, nhứt răng

Quả Bồ kết tán nhỏ đắp vào chân răng, hễ chảy nước miếng thì nhổ đi không được nuốt, hoặc dùng quả Bồ kết đốt tồn tính xỉa vào chân răng.

  • Chữa kiết lỵ, ỉa mót rặn

Hạt Bồ kết, chỉ xác (lượng bằng nhau), sao vàng tán thành bột, trộn với hồ nếp làm thành viên bằng hạt ngô. Ngày uống 10-20 viên, với nước chè đặc

  • Chữa mụn nhọt

Gai Bồ kết phối hợp với kim ngân hoa, cam thảo, mỗi thứ 2-8g, sắc nước uống. Đồng thời, lấy gai Bồ kết, quả bồ hòn đốt thành than, tán thành bột mịn trộn với bồ hóng bếp và nhựa thông, phết vào giấy bản làm cao dán.

  • Chữa sưng vú phụ nữ

Gai Bồ kết đốt tồn tính (40g), bạng phấn (4g). Hai vị tán thành bột, trộn đều, mỗi lần uống 4g.