Giỏ hàng

MẠCH MÔN

MẠCH MÔN

Tên khoa học: Ophiopogon japonicus (L.f.) Ker.- Gawl.

Tên khác: Tóc tiên, lan tiên, xà thảo, duyên giới thảo, mạch môn đông, phiéc kép phạ (Tày).

Tên nước ngoài: Dwarf lily – turf, japanese snake’s beard (Anh); ophiopogon (Pháp).

Họ: Thiên môn (Asparagaceae).

Mô tả

Cây thảo, sống nhiều năm, có thân ngắn mang nhiều rễ củ mập. Lá hình dải hẹp, dài 15 – 30 cm, rộng 2 – 4 cm, nhẵn, gốc có bẹ to hình màng, đầu nhọn, 5 – 7 gân lá song song, nổi rất rõ, mặt trên xanh lục sẫm, mặt dưới trắng nhạt.

Cụm hoa là một chùm dài 10 – 20cm, cuống có cạnh; hoa màu lục nhạt hoặc lơ sáng; lá bắc không màu hoặc trắng nhạt; bao gồm 6 phiến thuôn; nhị 6, chỉ nhị rất ngắn, bao phấn hình mác.

Quả mọng, màu tím, đường kính 6 mm, chưa 1 – 2 hạt.

Mùa hoa quả: tháng 8 – 10.

Phân bố, sinh thái

Chi Ophiopogon (L.f.) Ker. – Gawl. gồm các loài đều là cây thảo, phân bố chủ yếu ở  vùng Đông và Trung Á. Ở Việt Nam, có 6 loài, trong đó mạch môn là cây trồng. Cây có nguồn gốc ở Trung Quốc và Nhật Bản, hiện cũng được trồng nhiều ở Trung Quốc.

Ở Việt Nam, mạch môn là cây thuốc được trồng từ lâu đời. Đó là cây ưa ẩm, chịu bóng, ra hoa quả hàng năm. Hiện chưa quan sát được cây con mọc từ hạt. Cây có khả năng đẻ nhánh khỏe; từ 2 – 3 nhánh con đem trồng, sau 1 năm cây phát triển thành một khóm lớn, với hàng chục nhánh con.

Công dụng

Tính vị, công năng: Mạch môn có vị ngọt hơi đắng, tính mát, có tác dụng nhuận phế, giảm ho, cầm máu, làm mát tim, thanh nhiệt.

Rễ củ mạch môn được dùng để chữa ho khan, viêm họng, lao phổi nóng âm ỉ về chiều, sốt cao, tâm phiền khát nước, thổ huyết, khái huyết, chảy máu cam, hen phế quản, khó ngủ. Còn dùng để lợi tiểu và chữa thiếu sữa, điều hòa nhịp tim khỏi hồi hộp, chữa táo bón, lở ngứa. Ngày dàng 6 – 20g, dạng thuốc sắc.

Trong y học Trung Quốc, rễ củ mạch môn thường được dùng trị các bệnh tim mạch, cao huyết áp, vữa xơ động mạch, loạn thần kinh mạch máu, loạn thần kinh thực vật, khí hư và mất ngủ. Phối hợp với các dược liệu khác trị viêm dây thần kinh.

Dạng dùng là nước sắc hoặc tán bột làm thành viên hoàn với liều mỗi lần 3 - 10g. Ở Ấn Độ, những rễ cũ có chất nhầy của mạch môn có thể ăn được và được dùng thay thế nhân sâm; ở các nước Campuchia, Lào, rễ được dùng làm thuốc chữa sốt và lợi sữa, trị viêm phổi và một số bệnh về gan, thận và ruột.

Bài thuốc

  • Chữa âm hư, sốt cao, suyễn khát, trên nóng dưới lạnh (Toàn chân nhất khí thang):

Mạch môn 12g, thục địa 32g, ngũ vị 32g, nhân sâm 12g, bạch truật 12g, phụ tử chế 4g. Sắc uống ngày 1 thang.

  • Chữa nhiệt thương tổn đến nguyên khí, đoản hơi, khát, phế hư mà ho (Sinh mạch tán):

Mạch môn 2g, nhân sâm 2g, ngũ vị 7 hạt.

Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa cảm nắng thấp nhiệt nhức đầu, mình nóng ra mồ hôi, phiền khát, đái vàng, tức ngực, mình mẩy đau nhức nặng nề, lười ăn, tinh thần mỏi mệt, mạch hư (Thanh thử ích khí thang):

Mạch môn l,2g, hoàng kỳ 6g, thương truật 6g, thăng ma 4g, nhân sâm 2g, bạch truật 2g, trần bì 2g, trạch tả 2g, thần khúc 2g, đương quy 1,2g, cát căn 1,2g, hoàng bá 1,2g, cam thảo 1,2g, thanh bì 0,8g, ngũ vị 9 hạt.

Sắc uống ngày 1 thang.

  • Chữa mửa khan không đứt (Thanh kim dao khí phương):

Mạch môn (sao gạo) 8g, xa tiền (sao qua) 6g, trạch tả (sao muối) 6g, ngưu tất (dùng sống) 4g, nhục quế (kỵ lửa) 4g, xích phục linh 4g, trầm hương (mài vào thuốc) 2g, ngũ vị 1,6g, gừng sống 3 lát. Sắc uống ngày1 thang.

  • Chữa ăn uống không tiêu (Thông quan giao thác thang):

Mạch môn 4g, thục địa 12g, sơn dược 7g (đều tầm trầm hương), sơn thù 4g, đơn bì 3,6g, ngưu tất 2,4g, trạch tả 2,4g, phục linh 2g, nhục quế 1,2g, phụ tử chế 1,2g. Sắc uống ngày 1 thang.

  • Chữa chứng thực nhiệt, phát cuồng, tinh thần hỗn loạn, khát nước nhiều (Khử nhiệt định cuồng phong):

Mạch môn 80g, thạch cao 80g, huyền sâm 80g, phục thần 40g, xa tiền 20g, tri mẫu 12g, sa sâm 12g.

Sắc uống ngày 1 thang.

  • Chữa ra mồ hôi nhiều, toàn thân nóng, phiền khát, mê sảng (Cứu âm tiết dương thang):

Mạch môn 8g, thục địa 16g, mẫu đơn 6g, đơn sâm 6g, ngưu tất 6g, phục linh 6g, bạch thược 4g, khương thán 1,6g. Sắc uống ngày 1 thang.

  • Chữa kinh sợ hồi hộp hay quên, ra mồ hôi trộm, kém ăn, ít ngủ, mỏi mệt, phụ nữ kinh trệ, rong kinh (Xuân dục phương):

Mạch môn 6g, thục địa 12g, bạch truật 8g, phục linh 8g, ngưu tất 6g, ô dược 4g, phụ tử 4g, ngũ vị 9 hạt. Gia nước gừng sống một ít. Sắc uống ngày 1 thang.

  • Chữa chứng tinh huyết suy kiệt, trong ngực nôn nao, đau từ trên xuống dưới, khô khát, táo kết, gầy sạm (Tư thủy nhuận táo phương):

Mạch môn 24g, thục địa 80g, thiên môn 24g, phụ tử chế 8g, ngũ vị 20 hạt, sữa người một bát to. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa ho, viêm họng:

Mạch môn 10g, bách bộ (bỏ lõi sao vàng) 10g, vỏ rễ dâu (cạo vỏ vàng) 10g, vỏ quýt 5g, xạ can 5g, cam thảo dây 5g.

Dạng thuốc phiến ngậm, ngày ngậm 4 - 5 lần, mỗi lần 1 phiến (mỗi phiến tương đương 3g), hoặc dạng cao loãng, mỗi lần 1 thìa cà phê.

  • Chữa trẻ em viêm phế quản, viêm họng:

Mạch môn 24g, huyền sâm 12g, thiên môn 12g. Sắc uống.

  • Chữa tắc tia sữa:

Mạch môn bỏ lõi tán nhỏ. Mỗi lần uống 10 – 12g. Lấy sừng tê giác mài với rượu uống độ 4g làm thang. Uống 2 - 3 lần.

  • Chữa miệng lưỡi lở loét, viêm da ngứa gãi, táo bón, lòi dom, đại tiện ra máu:

Mạch môn 20g, huyền sâm 12g, thuốc bỏng l2g, công cộng 6g. Sắc uống hoặc ngậm rồi nuốt dần.

  • Thang tư âm (bổ thủy) dùng cho các trường hợp có sốt:

Mạch môn, sinh địa, huyền sâm, hạt muồng sao, ngưu lất, tri mẫu, hoàng bá, đan sâm, đơn bì, xích thược, cỏ nhọ nồi, trắc bá sao, huyết dụ, mỗi vị 10 - 16g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa bệnh tim cùng với bệnh thận:

Mạch môn 93g, sinh địa 248g, sơn thù du 124g, sơn dược 124g, mẫu đơn bì 93g, phục linh 93g, trạch tả 93g, ngũ vị tử 62g.

Tán thành bột, làm thành viên hoàn, mỗi viên 2,5g. Mỗi lần uống 4 viên, ngày 2 lần.

  • Chữa xơ vữa động mạch, co thắt mạch vành kèm theo loạn nhịp, khó thở, đánh trống ngực:

Mạch môn 15,5g, thiên môn 12,5g, sa sâm 9g, đan sâm 9g, ngũ vị tử 6g, viẽn chí 6g, cam thảo 3g.

Sắc với 600 ml nước, còn 200 ml. Chia uống làm 2 lần trong ngày. Uống trong thời gian 1 - 2 tháng.

  • Chữa giai đoạn đầu của lao phổi, hen phế quản, ho gà, viêm phế quản:

Mạch môn 18g, bán hạ 9g, thóc tẻ 4,5g, táo 3g, nhân sâm 2g, cam thảo 2g.

Sắc với 600 ml nước, còn 300 ml. Chia làm 3 lần trong ngày, uống lúc còn nóng.

  • Chữa suy nhược cơ thể do phế âm hư:

Mạch môn 12g, sa sâm 20g, hoài sơn l6g; thiên môn, thục địa, mỗi vị 12g; mạch nha, quy bản, tang bạch bì, mỗi vị 10g; trần bì 6g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa viêm phế quản cấp tính (Thanh táo cứu phế thang):

Mạch môn 12g; đảng sâm l6g; tang diệp, thạch cao, tỳ bà diệp, mỗi vị 12g; hạnh nhân, a giao, mỗi vị 8g; cam thảo 6g; gừng 4g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa lao phổi:

Mạch môn 12g, đảng sâm, hoài sơn, bạch truật, mỗi vi 16g; ý dĩ, thiên môn, quy bản, mỗi vị 12g; a giao 8g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa nhồi máu cơ tim:

Mạch môn, nhân sâm, ngũ vị tử, mỗi vị 12g; cam thảo 6g. Sắc uống.

  • Chữa suy nhược thần kinh thể âm hư, hỏa vượng (Chu sa an thần thang gia giảm):

Mạch môn, sinh địa, đương quy, bạch thược, mỗi vị 12g; xuyên liên, toan táo nhân, phục linh, mỗi vị 8g, cam thảo 6g, chu sa 0,6g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa bệnh tâm thần, sau cơn phát cuồng, người bệnh mệt mỏi, gẩy yếu:

Mạch môn, sinh địa, huyền sâm, mỗi vị 12g; hoàng cầm, hoàng liên, táo nhân, mộc thông, mỗi vị 8g; cam thảo 6g; đăng tâm 4g. Sắc uống ngày một thang.

  • Chữa viêm phổi trẻ em (Nhân sâm ngũ vị thang):

Mạch môn 12g; phục linh, đại táo, bạch truật, mỗi vị 8g; nhân sâm, ngũ vị tử, mỗi vị 6g; chích thảo 4g; sinh khương 2g. Sắc uống.

  • Chữa sởi ở thời kỳ sởi bay, ho, miệng khô:

Mạch môn 6g; sa sâm 12g; huyền sâm, ngân sài hồ, mỗi vị 8g; đảng sâm 6g; cam thảo 4g; long đởm thảo, đăng tâm, mỗi vị 2g. Sắc uống.

  • Chữa ho gà giai đoạn hồi phục:

a. Mạch môn 12g; thiên môn, bách bộ, mỗi vị 16g; sa sâm 12g. Sắc uống.

b. Mạch môn, bách bộ, sa sâm, mỗi vị 8g; cát cánh 6g; cam thảo, tử uyển, kinh giới, mỗi vị 4g, trần bì 2g. Sắc uống.

  • Chữa viêm não Nhật Bản B:

Mạch môn 12g; thạch cao 40g; cam thảo đất, kim ngân, mỗi vị 16g; sinh địa, hoàng đằng, huyền sâm, mỗi vị 12g. Sắc uống.

  • Chữa viêm não Nhật Bản ở giai đoạn hồi phục:

Mạch môn, sinh địa, sa sâm, huyền sâm, mỗi vị 12g; a giao 10g; kỷ tử 8g. Sắc uống.

  • Chữa kinh nguyệt trước kỳ (Lưỡng địa thang):

Mạch môn 20g; sinh địa, huyền sâm, mỗi vị 40g; bạch thược 20g; địa cốt bì, a giao, mỗi vị 12g. Sắc uống.

  • Chữa ít sữa hoặc sữa không xuống (Thông nhũ đan gia giảm):

Mạch môn 8g, đảng sâm 16g, hoàng kỳ 12g, mộc thông 10g, đương quy 8g; cát cánh, thông thảo, mỗi vị 6g; móng giò lơn 2 cái. Sắc uống nước thuốc và ăn móng giò.